Ai cũng đều không thể là một hòn đảo độc lập, một tiểu vũ trụ trong suy nghĩ nhưng đối với ứng xử trong xã hội thì không thể tách riêng ra được. "Một người muốn giành được thành công cần phải biết cách làm việc với người khác. Một nhà lãnh đạo giỏi sau lưng luôn có một đội ngũ nhân viên hổ trợ đắc lực."
Giữa người và người thường có những lúc nãy sinh xung đột hay mâu thuẩn, cho nên chúng ta không nên để cho nó kéo dài đến mức không thể cùng nhau làm việc. Khi ấy mọi người sẽ trở nên đối kháng với nhau, càng làm cho ta thêm thất bại mà thôi. Thay vì tất cả cùng hợp tác vui vẻ làm việc với nhau, chắc chắn chẳng trở ngại nào mà không vượt qua.
Việc hợp tác nên bắt đầu từ chính bản thân mình, tốt nhất là đề ra những mục tiêu như sau :
1. Bảo đảm sự công bằng của cá nhân và mọi người, không theo chủ nghĩa cực đoan.
2. Phải tôn trọng tập thể hoặc để tập thể đứng ở vị trí chủ động.
3. Hòa đồng trong công việc cùng với mọi người. Tìm những phẩm chất tích cực của họ để tạo sự thân thiện. không nhắm vào những tiêu cực của từng người mà chèn ép, áp đặt hay tự tôn cái tôi.
4. Đối với mọi người nên bày tỏ sự gởi gắm, hy vọng. Đây là sự khích lệ mạnh mẽ, làm cho người được gời gắm tăng thêm hăng say trong công việc.
5. Giữ khiêm tốn, tôn trọng những thói quen riêng của mỗi người nếu như đó không làm tổn hại đến công việc.
6. Chân thành và thẳng thắn trong giao tiếp, vui vẻ tiếp thu ý kiến của người khác.
"Sáng tạo và say mê làm việc là một đức tính quí nhưng nếu không đi đôi với nhân cách thì chỉ là ốc đảo đối kháng với tập thể chứ không thể hợp tác nổi trong bất cứ môi trường nào. "
Hợp tác không thể lấy mệnh lệnh ra để duy trì hay áp đặt. Nếu do bị áp đặt mà tạo nên sự sợ hãi hoặc uất ức, hoặc không hài lòng với lợi nhuận, không yên tâm về kinh tế thì sự hợp tác chỉ là tạm bợ. Nếu đã là tạm bợ thì sẽ không thể lâu bền và hết lòng cho công việc. Như thế sẽ ảnh hưởng rất quan trọng đến sự thành bại của công việc, bởi mọi người không thể phát huy hết tính cách sáng tạo trong hợp tác.
Nắm được mấu chốt vấn đề của hợp tác. Coi trọng con người, tận dụng tài năng, đồng thời thừa nhận và khẳng định mỗi bước đi của họ, khẳng định một tương lai lợi nhuận mà con người nào cũng cần. Có như vậy người hợp tác mới thật sự yên tâm cống hiến hết sức lực của mình cho công việc của ta.
Showing posts with label Những cấm kỵ. Show all posts
Showing posts with label Những cấm kỵ. Show all posts
Saturday, 28 May 2011
Nghệ thuật dùng người
Vào thời Tam Quốc có một câu chuyện sau :
Phùng Dị là một vị Tướng dưới quyền Lưu Tú, Ông không chỉ là một vị anh hùng thiện chiến mà còn là một vị Tướng rất trung thành, cao thượng.
Khi Lưu Tú chuyển hướng đánh Hà Bắc, tình hình rất khó khăn và nguy hiểm. Trong một lần hành quân, đạn hết lương cạn, vừa đói vừa rét. Lưu Tú vượt qua được hoàn cảnh này chính là nhờ Phùng Dị thường dâng cháo đậu cơm gạo và cũng chính Ông là người đầu tiên khuyên Lưu Tú đứng lên xưng Đế.
Phùng Dị có sách lược cầm quân nhưng bản tính lại khiêm tốn. Mỗi khi các Tướng Quân tụ họp khoa trương công lao của mình thì Ông chỉ ngồi ẩn mình dưới gốc cây lớn. Vì vậy, mọi người gọi ông là “Đại Thụ Tướng Quân”.
Phùng Dị chiến đấu lâu dài ở Hà Bắc, Quan Trung. Chiếm được cảm tình của người dân, trở thành lá chắn quan trọng của Lưu Tú ở phía Tây Bắc. Điều này khiến cho các Quan trong triều ghen tức nên thường dâng sớ lên Vua tố cáo Phùng Dị đã chiếm cứ Quan Trung, chém giết quan sứ, uy quyền rất lớn, thu phục lòng dân, nên mọi người đều gọi Ông là Hàm Dương Vương.
Phùng Dị cũng không yên tâm khi bản thân đã nắm giữ binh quyền quá lâu, xa rời triều đình nên nhiều lần gửi tấu xin được trở về Lạc Dương để tránh sự đố kỵ của gian thần và sự nghi ngờ của nhà Vua. Lưu Tú quả thực cũng không yên tâm với Phùng Dị nhưng vùng Tây Bắc lại không thể thiếu một người như Phùng Dị được.
Để giải tỏa sự lo lắng của Phùng Dị, Lưu Tú bèn gửi bức mật thư tố cáo của gian thần cho Phùng Dị. Chiêu này của Lưu Tú quả thực vô cùng sáng suốt, vừa có thể giải thích được sự tin tưởng của Lưu Tú đối với Phùng Dị lại vừa ngầm thể hiện rằng triều đình đã có sự phòng bị. Ân uy song hành, khiến cho Phùng Dị vội vàng gửi tấu thể hiện lòng trung thành của mình mà hết lời thề thốt. Lúc này, Lưu Tú mới gửi thư đáp lại :
“Tướng quân và Tôi, nói về mặt công là quân thần, nói về mặt tư là Phụ Tử. Lẽ nào Tôi lại nghi ngờ đến Tướng Quân sao ? Tướng Quân cần gì phải lo lắng như thế !!”
Khi xử lý các bức mật thư tố cáo, nhà Vua chỉ thể hiện ra thái độ không nghi ngờ mà thôi, nhưng mục đích thực sự vẫn là ngầm biểu thị cho các đại thần biết : “Ta đã chú ý đến ngươi rồi, ngươi chớ có coi thường ta”. Đúng là một mũi tên trúng hai đích, thật là cao minh.
Một nhà chính trị mưu lược thường có khả năng xử lý khéo léo. Thể hiện thái độ dùng người không nghi ngờ của mình khiến cho người bị nghi ngờ không nghi ngờ nữa mà càng trung thành với mình hơn.
Nghệ thuật dùng người được các cổ nhân rất coi trọng và thường ghi lại những câu chuyện minh chứng rất sinh động, thí dụ như chuyện nuôi báo để bắt chuột của Y Vu Cao :
Y Vu Cao nghe nói Vĩ Thiếu Thị nuôi được một con Báo rất giỏi bắt thú. Ông liền dùng một đôi Ngọc Bích trắng đổi lấy con Báo đấy. Sau đó dùng xích đẹp và cho Báo ăn thịt tươi mỗi ngày. Nhưng con Báo ấy chẳng hề nhúc nhích hay tỏ ra gì là mãnh thú mỗi khi có con chuột chạy ngang qua. Việc này đã làm cho Y Vu Cao rất tức giận. Ông dùng thừng quật cho con Báo một trận rồi nhốt vào củi, mỗi ngày chỉ cho ăn một ít bã rượu.
Nghe được chuyện, Bạn ông là An Kỳ Tử đã trách ông rằng :
“Tôi nghe nói bảo kiếm Cự Khuyết sắc nhọn thật nhưng nếu dùng để khâu giày thì không bằng một cây dùi. Gấm vóc Lụa Là tuy đẹp thật nhưng nếu dùng để rửa mặt lại không bằng một phân vải thô. Loài Báo tuy hung mãnh thật nhưng lại không bắt chuột giỏi bằng Mèo. Thế ông muốn bắt chuột thì Tại sao ông không dùng Mèo, cớ sao lại dùng Báo làm gì ?
Lúc này Y Vu Cao mới tỉnh ngộ ra, sau đó đem Mèo về nhà bắt chuột. Còn Báo thì Ông thả đi bắt dã thú ...
Tiểu mục trên đã chính thức khép lại trang NT Đắc Nhân Tâm này. Sau khi xem xong toàn bộ, hi vọng Nó sẽ giúp ích cho các Bạn vững tin trên con đường phía trước, là thứ hành trang cần để bước vào đời. Là kinh nghiệm đúc kết lại cho người sau. Đáng giá, đáng nhớ !!!
Vậy là cuối cùng mình cũng đã hoàn tất trang Blog ĐNT, tưởng chừng như không thể nhưng lại có thể.
"Có cuộc vui nào mà chẳng kết thúc
Buổi tiễn đưa nào mà không chia ly".
Phùng Dị là một vị Tướng dưới quyền Lưu Tú, Ông không chỉ là một vị anh hùng thiện chiến mà còn là một vị Tướng rất trung thành, cao thượng.
Khi Lưu Tú chuyển hướng đánh Hà Bắc, tình hình rất khó khăn và nguy hiểm. Trong một lần hành quân, đạn hết lương cạn, vừa đói vừa rét. Lưu Tú vượt qua được hoàn cảnh này chính là nhờ Phùng Dị thường dâng cháo đậu cơm gạo và cũng chính Ông là người đầu tiên khuyên Lưu Tú đứng lên xưng Đế.
Phùng Dị có sách lược cầm quân nhưng bản tính lại khiêm tốn. Mỗi khi các Tướng Quân tụ họp khoa trương công lao của mình thì Ông chỉ ngồi ẩn mình dưới gốc cây lớn. Vì vậy, mọi người gọi ông là “Đại Thụ Tướng Quân”.
Phùng Dị chiến đấu lâu dài ở Hà Bắc, Quan Trung. Chiếm được cảm tình của người dân, trở thành lá chắn quan trọng của Lưu Tú ở phía Tây Bắc. Điều này khiến cho các Quan trong triều ghen tức nên thường dâng sớ lên Vua tố cáo Phùng Dị đã chiếm cứ Quan Trung, chém giết quan sứ, uy quyền rất lớn, thu phục lòng dân, nên mọi người đều gọi Ông là Hàm Dương Vương.
Phùng Dị cũng không yên tâm khi bản thân đã nắm giữ binh quyền quá lâu, xa rời triều đình nên nhiều lần gửi tấu xin được trở về Lạc Dương để tránh sự đố kỵ của gian thần và sự nghi ngờ của nhà Vua. Lưu Tú quả thực cũng không yên tâm với Phùng Dị nhưng vùng Tây Bắc lại không thể thiếu một người như Phùng Dị được.
Để giải tỏa sự lo lắng của Phùng Dị, Lưu Tú bèn gửi bức mật thư tố cáo của gian thần cho Phùng Dị. Chiêu này của Lưu Tú quả thực vô cùng sáng suốt, vừa có thể giải thích được sự tin tưởng của Lưu Tú đối với Phùng Dị lại vừa ngầm thể hiện rằng triều đình đã có sự phòng bị. Ân uy song hành, khiến cho Phùng Dị vội vàng gửi tấu thể hiện lòng trung thành của mình mà hết lời thề thốt. Lúc này, Lưu Tú mới gửi thư đáp lại :
“Tướng quân và Tôi, nói về mặt công là quân thần, nói về mặt tư là Phụ Tử. Lẽ nào Tôi lại nghi ngờ đến Tướng Quân sao ? Tướng Quân cần gì phải lo lắng như thế !!”
Khi xử lý các bức mật thư tố cáo, nhà Vua chỉ thể hiện ra thái độ không nghi ngờ mà thôi, nhưng mục đích thực sự vẫn là ngầm biểu thị cho các đại thần biết : “Ta đã chú ý đến ngươi rồi, ngươi chớ có coi thường ta”. Đúng là một mũi tên trúng hai đích, thật là cao minh.
Một nhà chính trị mưu lược thường có khả năng xử lý khéo léo. Thể hiện thái độ dùng người không nghi ngờ của mình khiến cho người bị nghi ngờ không nghi ngờ nữa mà càng trung thành với mình hơn.
Nghệ thuật dùng người được các cổ nhân rất coi trọng và thường ghi lại những câu chuyện minh chứng rất sinh động, thí dụ như chuyện nuôi báo để bắt chuột của Y Vu Cao :
Y Vu Cao nghe nói Vĩ Thiếu Thị nuôi được một con Báo rất giỏi bắt thú. Ông liền dùng một đôi Ngọc Bích trắng đổi lấy con Báo đấy. Sau đó dùng xích đẹp và cho Báo ăn thịt tươi mỗi ngày. Nhưng con Báo ấy chẳng hề nhúc nhích hay tỏ ra gì là mãnh thú mỗi khi có con chuột chạy ngang qua. Việc này đã làm cho Y Vu Cao rất tức giận. Ông dùng thừng quật cho con Báo một trận rồi nhốt vào củi, mỗi ngày chỉ cho ăn một ít bã rượu.
Nghe được chuyện, Bạn ông là An Kỳ Tử đã trách ông rằng :
“Tôi nghe nói bảo kiếm Cự Khuyết sắc nhọn thật nhưng nếu dùng để khâu giày thì không bằng một cây dùi. Gấm vóc Lụa Là tuy đẹp thật nhưng nếu dùng để rửa mặt lại không bằng một phân vải thô. Loài Báo tuy hung mãnh thật nhưng lại không bắt chuột giỏi bằng Mèo. Thế ông muốn bắt chuột thì Tại sao ông không dùng Mèo, cớ sao lại dùng Báo làm gì ?
Lúc này Y Vu Cao mới tỉnh ngộ ra, sau đó đem Mèo về nhà bắt chuột. Còn Báo thì Ông thả đi bắt dã thú ...
Tiểu mục trên đã chính thức khép lại trang NT Đắc Nhân Tâm này. Sau khi xem xong toàn bộ, hi vọng Nó sẽ giúp ích cho các Bạn vững tin trên con đường phía trước, là thứ hành trang cần để bước vào đời. Là kinh nghiệm đúc kết lại cho người sau. Đáng giá, đáng nhớ !!!
Vậy là cuối cùng mình cũng đã hoàn tất trang Blog ĐNT, tưởng chừng như không thể nhưng lại có thể.
"Có cuộc vui nào mà chẳng kết thúc
Buổi tiễn đưa nào mà không chia ly".
Giả ngây dại nhưng không điên
Đây là một trong 36 kế sách “Giả Si Bất Điên” của người xưa. Rất ít người sử dụng được kế sách này. Nhưng nếu áp dụng được thì sẽ thành công rất lớn như Tư Mã Ý, Tôn Tẩn v.v..
Kẻ ngây ngô là người có đầu óc không bình thường. Thiếu nhận thức về bất cứ những gì diễn ra xung quanh. Còn kẻ điên thì hoàn toàn mất suy nghĩ, Tinh thần hoạt động hỗn loạn trong não bộ. Do đó, giả “ngây dại” mà “không điên” là rất khó. Bởi vì ngoài mặt thì giả vờ ngốc nghếch, ngu đần nhưng bên trong tinh thần thì phải hết sức tỉnh táo mới được, nhất định không để lộ ra một chút sơ hở để phù hợp với hoàn cảnh.
Phương pháp này chỉ chủ yếu áp dụng cho tình hình chính trị hay trong đại sự mà thôi. Khi tình thế bất lợi đến, ngoài mặt phải giả ngu dại để che giấu mưu đồ thật sự, tránh sự cảnh giác và mưu hại của đối phương, chờ thời cơ đến để quật khởi.
Năm 239 công nguyên. Ngụy Thiếu Đế Tào Phương giao toàn quyền cho Tào Sảng thu hết quyền bính của Tư Mã Ý. Tuy rất không vừa ý nhưng "lực bất tòng tâm". Để tránh Tào Sảng sát hại đồng thời để ẩn mình chờ thời nên Tư Mã Ý cáo bệnh ở nhà. Tuy vậy, Tào Sảng không tin nên phái người tên Lý Thắng đến dò xét thực hư. Đoán trước được, Tư Mã Ý đã lập tâm “Giả ngây dại mà không điên”. Vì vậy khi Lý Thắng đến thì thấy Tư Mã Ý đang nằm trên giường, thân thể suy nhược, cặp mắt lờ đờ. Hai thị tì phải vực dậy, nhẹ nhàng bón cháo vậy mà Tư Mã Ý vẫn không ăn gọn được, rung lẫy bẫy, cháo vãi đầy ngực. Khi nói chuyện, Ông còn giả vờ rên rỉ không nói nên lời. Lý Thắng đem tất cả mọi điều về thuật lại cho Tào Sảng nghe, đồng thời nói : “Tư Mã Ý chỉ là một cái xác còn lại chút hơi thở cuối cùng mà thôi, thần thái đã lìa khỏi xác, đại nhân không phải có bất kỳ lo lắng gì về ông ta nữa đâu”. Tào Sảng khi nghe Tư Mã Ý sắp lìa đời thì rất yên tâm nên không còn đề phòng gì đến ông ta nữa. Nhân sơ hở này Tư Mã Ý gấp rút chuẩn bị lực lượng.
Tháng 1 năm 249 Công Nguyên, Tào Phương cùng các anh em và thân tính Tào Sảng đi du ngoạn ở Cao Bình. Tư Mã Ý thừa cơ phát động binh biến trong triều, phế bỏ và xử tử anh em Tào Sảng.
Khi Triều Minh mới thành lập. Để gìn giữ giang sơn, Chu Nguyên Chương đã lập ra những hình phạt nghiêm khắc, tàn khốc chưa từng có trong lịch sử đối với những tham quan ô lại. Ngự Sử Viên Khải cũng là một trong số đó. Chu Nguyên Chương nói rằng: "điên thì không sợ đau" liền sai người dung dùi gỗ đâm vào da thịt. Tuy rất đau nhưng Viên Khải cắn răng không hề kêu la. Khi trở về nhà, Viên Khải lại còn dùng xích sắt tự buộc cổ mình, nói toàn những lời điên dại. Vẫn không tin,Vua lại cho người đi thẩm tra thêm, Viên Khải trợn mắt nhìn người đến mà hát bài “Trời Cao” rồi leo bờ rào vừa hát vừa nhặt phân chó mà ăn. Nghe thuật lại, Chu Nguyên Chương mới thôi không truy cứu nữa.
Trên thực tế, Vua đã bị lừa bởi vì Viên Khải đoán được Vua thể nào cũng sai người đến thăm dò nên đã âm thầm dùng bột sắn với đường vo lại thành phân rồi vãi quanh bờ rào. Khi người của Vua đến,Viên Khải bèn ăn ngồm ngoàm có vẻ rất ngon lành, nhờ vậy mới cứu được tính mạng ông.
Kẻ ngây ngô là người có đầu óc không bình thường. Thiếu nhận thức về bất cứ những gì diễn ra xung quanh. Còn kẻ điên thì hoàn toàn mất suy nghĩ, Tinh thần hoạt động hỗn loạn trong não bộ. Do đó, giả “ngây dại” mà “không điên” là rất khó. Bởi vì ngoài mặt thì giả vờ ngốc nghếch, ngu đần nhưng bên trong tinh thần thì phải hết sức tỉnh táo mới được, nhất định không để lộ ra một chút sơ hở để phù hợp với hoàn cảnh.
Phương pháp này chỉ chủ yếu áp dụng cho tình hình chính trị hay trong đại sự mà thôi. Khi tình thế bất lợi đến, ngoài mặt phải giả ngu dại để che giấu mưu đồ thật sự, tránh sự cảnh giác và mưu hại của đối phương, chờ thời cơ đến để quật khởi.
Năm 239 công nguyên. Ngụy Thiếu Đế Tào Phương giao toàn quyền cho Tào Sảng thu hết quyền bính của Tư Mã Ý. Tuy rất không vừa ý nhưng "lực bất tòng tâm". Để tránh Tào Sảng sát hại đồng thời để ẩn mình chờ thời nên Tư Mã Ý cáo bệnh ở nhà. Tuy vậy, Tào Sảng không tin nên phái người tên Lý Thắng đến dò xét thực hư. Đoán trước được, Tư Mã Ý đã lập tâm “Giả ngây dại mà không điên”. Vì vậy khi Lý Thắng đến thì thấy Tư Mã Ý đang nằm trên giường, thân thể suy nhược, cặp mắt lờ đờ. Hai thị tì phải vực dậy, nhẹ nhàng bón cháo vậy mà Tư Mã Ý vẫn không ăn gọn được, rung lẫy bẫy, cháo vãi đầy ngực. Khi nói chuyện, Ông còn giả vờ rên rỉ không nói nên lời. Lý Thắng đem tất cả mọi điều về thuật lại cho Tào Sảng nghe, đồng thời nói : “Tư Mã Ý chỉ là một cái xác còn lại chút hơi thở cuối cùng mà thôi, thần thái đã lìa khỏi xác, đại nhân không phải có bất kỳ lo lắng gì về ông ta nữa đâu”. Tào Sảng khi nghe Tư Mã Ý sắp lìa đời thì rất yên tâm nên không còn đề phòng gì đến ông ta nữa. Nhân sơ hở này Tư Mã Ý gấp rút chuẩn bị lực lượng.
Tháng 1 năm 249 Công Nguyên, Tào Phương cùng các anh em và thân tính Tào Sảng đi du ngoạn ở Cao Bình. Tư Mã Ý thừa cơ phát động binh biến trong triều, phế bỏ và xử tử anh em Tào Sảng.
Khi Triều Minh mới thành lập. Để gìn giữ giang sơn, Chu Nguyên Chương đã lập ra những hình phạt nghiêm khắc, tàn khốc chưa từng có trong lịch sử đối với những tham quan ô lại. Ngự Sử Viên Khải cũng là một trong số đó. Chu Nguyên Chương nói rằng: "điên thì không sợ đau" liền sai người dung dùi gỗ đâm vào da thịt. Tuy rất đau nhưng Viên Khải cắn răng không hề kêu la. Khi trở về nhà, Viên Khải lại còn dùng xích sắt tự buộc cổ mình, nói toàn những lời điên dại. Vẫn không tin,Vua lại cho người đi thẩm tra thêm, Viên Khải trợn mắt nhìn người đến mà hát bài “Trời Cao” rồi leo bờ rào vừa hát vừa nhặt phân chó mà ăn. Nghe thuật lại, Chu Nguyên Chương mới thôi không truy cứu nữa.
Trên thực tế, Vua đã bị lừa bởi vì Viên Khải đoán được Vua thể nào cũng sai người đến thăm dò nên đã âm thầm dùng bột sắn với đường vo lại thành phân rồi vãi quanh bờ rào. Khi người của Vua đến,Viên Khải bèn ăn ngồm ngoàm có vẻ rất ngon lành, nhờ vậy mới cứu được tính mạng ông.
Ứng xử phải phù hợp
Con người sống ở đời cần phải đối phó với rất nhiều loại người, nhiều tính cách xấu tốt khác nhau. Do đó, chúng ta không thể chỉ dùng có một cách ứng xử duy nhất mà cần nhất là sự linh hoạt, không câu nệ phương pháp.
Nhưng tốt nhất là nên vừa dụng Văn vừa dụng Võ, vừa Nhu vừa Cương, vừa dùng ân lại vừa dùng uy, tùy theo hoàn cảnh mà áp dụng. Nếu kết hợp được những yếu tố đó ta mới có thể đạt được kết quả mong muốn một cách hoàn hảo.
Đối xử với người quá khoan hậu, dễ dãi thì sự ràng buộc, chế ước sẽ không chặt chẽ. Kết quả sẽ không tốt. Mà nếu nghiêm khắc quá sẽ làm người khác nản lòng, oán hận, không hết lòng vì công việc. Có lợi tất sẽ có hại, cả hai đều không thể tương đồng. Người khôn ngoan thấu hiểu được đạo lý này và để tránh khỏi mối nguy hại thì họ không bao giờ dùng dằng ở giữa mà rất khôn khéo hình thành nên hai tính cách khác nhau trong con người họ. Lúc là người mạnh mẽ cứng rắn, lúc là người mềm dẻo nhu hòa.
Những người khôn ngoan thì giống như những diễn viên xuất sắc, căn cứ theo vai diễn mà biến tấu khác nhau. Hôm nay là ôn nhu thuần hậu, ngày mai đã là một võ tướng sát khí đằng đằng. Việc ứng xử phù hợp với môi trường hoàn cảnh hết sức quan trọng. Nếu không phù hợp nhiều lúc còn mang đến tác hại cho mình và cho người khác.
Trong lịch sự có không ít ví dụ về những bậc cao thủ như thế :
Thừa tướng Đông Ngụy là Cao Hoan độc nắm quyền bính trong triều. Trước khi mất, Ông gọi con trai của mình là Cao Trừng đến bên giường nói rất nhiều về việc sắp xếp nhân sự để phò tá cho con trai lập nên nghiệp bá, Ông đặc biệt nhấn mạnh Mục Dung Thiệu Tông là người có thể hòa hợp lòng người. Ông Khuyên Con :
“Ta vốn không dùng ông ta là vì muốn để lại cho ngươi. Ông ta vốn lạnh lùng ác nghiệt, không cân nhắc người hiền tài nên có lợi cho gia tộc họ Cao, mục đích là để lại địa vị này cho con trai mình làm, vì thế Ngươi cần phải chú ý mà đối xử cho phù hợp”.
Sau khi Cao Trừng thay cha, theo phương châm đã định sẵn, ban cho Mục Dung Thiệu Tông quan cao lộc hậu, đối xử rất trọng vọng khiến Mục Dung Thiệu Tông cảm động vô cùng mà hết lòng phụng sự người chủ trẻ tuổi.
Nhưng tốt nhất là nên vừa dụng Văn vừa dụng Võ, vừa Nhu vừa Cương, vừa dùng ân lại vừa dùng uy, tùy theo hoàn cảnh mà áp dụng. Nếu kết hợp được những yếu tố đó ta mới có thể đạt được kết quả mong muốn một cách hoàn hảo.
Đối xử với người quá khoan hậu, dễ dãi thì sự ràng buộc, chế ước sẽ không chặt chẽ. Kết quả sẽ không tốt. Mà nếu nghiêm khắc quá sẽ làm người khác nản lòng, oán hận, không hết lòng vì công việc. Có lợi tất sẽ có hại, cả hai đều không thể tương đồng. Người khôn ngoan thấu hiểu được đạo lý này và để tránh khỏi mối nguy hại thì họ không bao giờ dùng dằng ở giữa mà rất khôn khéo hình thành nên hai tính cách khác nhau trong con người họ. Lúc là người mạnh mẽ cứng rắn, lúc là người mềm dẻo nhu hòa.
Những người khôn ngoan thì giống như những diễn viên xuất sắc, căn cứ theo vai diễn mà biến tấu khác nhau. Hôm nay là ôn nhu thuần hậu, ngày mai đã là một võ tướng sát khí đằng đằng. Việc ứng xử phù hợp với môi trường hoàn cảnh hết sức quan trọng. Nếu không phù hợp nhiều lúc còn mang đến tác hại cho mình và cho người khác.
Trong lịch sự có không ít ví dụ về những bậc cao thủ như thế :
Thừa tướng Đông Ngụy là Cao Hoan độc nắm quyền bính trong triều. Trước khi mất, Ông gọi con trai của mình là Cao Trừng đến bên giường nói rất nhiều về việc sắp xếp nhân sự để phò tá cho con trai lập nên nghiệp bá, Ông đặc biệt nhấn mạnh Mục Dung Thiệu Tông là người có thể hòa hợp lòng người. Ông Khuyên Con :
“Ta vốn không dùng ông ta là vì muốn để lại cho ngươi. Ông ta vốn lạnh lùng ác nghiệt, không cân nhắc người hiền tài nên có lợi cho gia tộc họ Cao, mục đích là để lại địa vị này cho con trai mình làm, vì thế Ngươi cần phải chú ý mà đối xử cho phù hợp”.
Sau khi Cao Trừng thay cha, theo phương châm đã định sẵn, ban cho Mục Dung Thiệu Tông quan cao lộc hậu, đối xử rất trọng vọng khiến Mục Dung Thiệu Tông cảm động vô cùng mà hết lòng phụng sự người chủ trẻ tuổi.
Không chà đạp người thất thế
Trên mặt đất vốn không có đường, chỉ vì nhiều người đi nên mới tạo thành con đường. Vậy người đầu tiên đi mở đường mới thật anh hùng. Họ đều nên "Vương" nên "Tướng", nhưng đừng nghĩ rằng họ đi một cách nhẹ nhàng và sung sướng.
Phải biết rằng mỗi bước chân họ giẫm lên đều có những gai góc lẫn cỏ hoa “Vô Tình”. Nếu không bước tiếp, họ vĩnh viễn sẽ là những kẻ vô danh tiểu tốt. Muốn thành công họ phải không ngần ngại phá tan gai góc đồng thời sẽ vô tình giẫm lên những cỏ hoa “Vô Tội”.
Nghe câu nói mang tính tiêu cực nhưng thực tế đây chính là ý của Tào Tháo nói thẳng lòng mình : “Thà phụ người còn hơn để người phụ ta”
Tuy rằng đây là điều khó chấp nhận nhưng một khi thành công rồi thì chúng ta có còn đang tâm giẫm lên những cỏ hoa nhỏ bé đáng thương ấy nữa không ? Muốn vậy, Ta hãy rèn luyện một tính cách mà người quân tử xưa kia rất coi trọng : “Đừng chà đạp người thất thế” hay câu ngạn ngữ : “Anh Hùng đánh người trên lưng ngựa chứ không đánh người ngã ngựa”.
Trong xã hội, có không ít loại người chỉ vì mục đích của riêng mình mà mặc kệ sự sống chết của người khác. Những người này tuy không làm ảnh hưởng đến các bậc quân tử nhưng họ sẽ đạt được thành công nếu đó là một xã hội “không” lành mạnh. Và thường mọi việc trên thế gian này là vậy, những kẻ “Vô Lương Tâm” thường được đứng ở vị trí cao. Tuy đó là nhất thời nhưng chỉ cần như thế cũng đủ để gây hại đến biết bao người thất thế rồi. Còn những người lương thiện, coi chịu thiệt là số phận thì lại không thoát khỏi mệnh khổ, chỉ có thể âm thầm ngồi khóc trong bóng tối. Nếu họ càng khóc to hơn thì không chừng tai họa sẽ ập đến bởi đã làm “Kinh Động” đến sự yên tĩnh của “Người trên cao”.
Nếu một người có tâm địa cao vọng thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi việc “Giẫm lên hoa cỏ”, ít hay nhiều còn tùy vào lương tâm và mục đích của họ mà thôi.
Cổ nhân có câu nói :
“Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”
Chẳng phải chê người cầm quân mà chỉ nói lên sự thật “Đau lòng” trong thế giới loài người mà thôi.
Hiện nay, với nền văn minh đã tiến bộ hơn trước, con người đã có sự bình đẳng, sự tự chủ, với những qui tắc pháp luật được đặt ra rất rõ ràng. Có muốn “Chà Đạp Hoa Cỏ” cũng không có cơ hội và sẽ bị xã hội lên án. Tuy nhiên, trong đời sống bình thường vẫn còn có những suy nghĩ : “Người mà quá mềm lòng sẽ đánh mất nhiều cơ hội”. Tuy mức độ của “Chà Đạp” có phạm vi nhỏ bé và chỉ liên quan đến sinh kế nhiều hơn là đại sự, nhưng nếu muốn con người được bình đẳng, thân thiện với nhau thì chúng ta phải phát huy được tư tưởng “Đừng nên Chà Đạp người thất thế”.
>> Ta không chà đạp người thì có ai dám chà đạp ta. Hơn nữa, những người mà được ta nâng đỡ khỏi sự “Chà Đạp” trước kia cũng sẽ đứng lên bênh vực, tạo cơ hội cho ta “Trừng Trị” đối phương và dễ dàng giúp ta thuận lợi tiến đến sự thành công.
Phải biết rằng mỗi bước chân họ giẫm lên đều có những gai góc lẫn cỏ hoa “Vô Tình”. Nếu không bước tiếp, họ vĩnh viễn sẽ là những kẻ vô danh tiểu tốt. Muốn thành công họ phải không ngần ngại phá tan gai góc đồng thời sẽ vô tình giẫm lên những cỏ hoa “Vô Tội”.
Nghe câu nói mang tính tiêu cực nhưng thực tế đây chính là ý của Tào Tháo nói thẳng lòng mình : “Thà phụ người còn hơn để người phụ ta”
Tuy rằng đây là điều khó chấp nhận nhưng một khi thành công rồi thì chúng ta có còn đang tâm giẫm lên những cỏ hoa nhỏ bé đáng thương ấy nữa không ? Muốn vậy, Ta hãy rèn luyện một tính cách mà người quân tử xưa kia rất coi trọng : “Đừng chà đạp người thất thế” hay câu ngạn ngữ : “Anh Hùng đánh người trên lưng ngựa chứ không đánh người ngã ngựa”.
Trong xã hội, có không ít loại người chỉ vì mục đích của riêng mình mà mặc kệ sự sống chết của người khác. Những người này tuy không làm ảnh hưởng đến các bậc quân tử nhưng họ sẽ đạt được thành công nếu đó là một xã hội “không” lành mạnh. Và thường mọi việc trên thế gian này là vậy, những kẻ “Vô Lương Tâm” thường được đứng ở vị trí cao. Tuy đó là nhất thời nhưng chỉ cần như thế cũng đủ để gây hại đến biết bao người thất thế rồi. Còn những người lương thiện, coi chịu thiệt là số phận thì lại không thoát khỏi mệnh khổ, chỉ có thể âm thầm ngồi khóc trong bóng tối. Nếu họ càng khóc to hơn thì không chừng tai họa sẽ ập đến bởi đã làm “Kinh Động” đến sự yên tĩnh của “Người trên cao”.
Nếu một người có tâm địa cao vọng thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi việc “Giẫm lên hoa cỏ”, ít hay nhiều còn tùy vào lương tâm và mục đích của họ mà thôi.
Cổ nhân có câu nói :
“Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”
Chẳng phải chê người cầm quân mà chỉ nói lên sự thật “Đau lòng” trong thế giới loài người mà thôi.
Hiện nay, với nền văn minh đã tiến bộ hơn trước, con người đã có sự bình đẳng, sự tự chủ, với những qui tắc pháp luật được đặt ra rất rõ ràng. Có muốn “Chà Đạp Hoa Cỏ” cũng không có cơ hội và sẽ bị xã hội lên án. Tuy nhiên, trong đời sống bình thường vẫn còn có những suy nghĩ : “Người mà quá mềm lòng sẽ đánh mất nhiều cơ hội”. Tuy mức độ của “Chà Đạp” có phạm vi nhỏ bé và chỉ liên quan đến sinh kế nhiều hơn là đại sự, nhưng nếu muốn con người được bình đẳng, thân thiện với nhau thì chúng ta phải phát huy được tư tưởng “Đừng nên Chà Đạp người thất thế”.
>> Ta không chà đạp người thì có ai dám chà đạp ta. Hơn nữa, những người mà được ta nâng đỡ khỏi sự “Chà Đạp” trước kia cũng sẽ đứng lên bênh vực, tạo cơ hội cho ta “Trừng Trị” đối phương và dễ dàng giúp ta thuận lợi tiến đến sự thành công.
Càng vun trồng càng thu hoạch nhiều lợi ích
Tự nâng cao năng lực của bản thân là một điều rất cơ bản, là yếu tố thăng tiến một cách chân chính.
Trong xã hội, có nhiều người mong được cấp trên đề bạt họ hoặc mong được người khác giúp đỡ để thăng tiến "Một bước lên mây" nhưng nếu sau này vì một lý do nào đó, cấp trên hoặc người giúp đỡ của họ không còn nữa thì họ sẽ lập tức ngã ngựa, không có cách cứu vãn.
Thông thường con người “Thích” nghe theo những người đã có địa vị, đã có cơ nghiệp lớn bởi vì muốn bắt chước, muốn thành đạt như họ. Suy nghĩ như vậy thật là lầm lẫn, bởi trong giao tiếp hay trong công việc họ đối xử cách khác, trong gia đình thì họ lại đối xử cách khác hơn. Cũng như đã nói ở những tiểu mục trước, con người ai cũng có mặt mạnh và mặt yếu, có cái tốt lẫn cái xấu. Vì vậy, bất cứ ta giao tiếp với ai, những người thành đạt hay những người thất bại thì cũng nên tuân theo nguyên tắc nhất định, đó là : “Sự Bình Đẳng”.
Những người chỉ biết dựa vào quyền hành, địa vị của mình để ra lệnh, bắt người khác phải tuân theo làm việc thì không bao giờ có thể hiểu được Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm là gì, không bao giờ có thể tiến lên chức vụ cao một cách chân chính.
Nếu có một ngày, những người khác không muốn ta nữa. Họ lo sợ ta nhờ vả, tìm cách từ chối thân cận thì đây chính là lúc ta cần phải xem xét lại cách đối nhân xử thế của ta rồi đó.
Một người lãnh đạo thông minh luôn biết quan tâm đến cấp dưới, luôn nghĩ đến sức khỏe, gia cảnh, hạnh phúc của cấp dưới. Họ khiến cho cấp dưới dựa vào họ, kính yêu họ, thật lòng quan tâm đến sự nghiệp của họ và cảm thấy day dứt nếu không giúp đỡ được cấp dưới thì mới là người biết sống cho người và cho chính mình.
Bạn hãy ghi nhớ nguyên tắc này : “Muốn được người giúp đỡ thì trước tiên phải giúp đỡ người. Giúp đỡ càng nhiều người thì càng nhận được nhiều sự giúp đỡ.”
Trong xã hội, có nhiều người mong được cấp trên đề bạt họ hoặc mong được người khác giúp đỡ để thăng tiến "Một bước lên mây" nhưng nếu sau này vì một lý do nào đó, cấp trên hoặc người giúp đỡ của họ không còn nữa thì họ sẽ lập tức ngã ngựa, không có cách cứu vãn.
Thông thường con người “Thích” nghe theo những người đã có địa vị, đã có cơ nghiệp lớn bởi vì muốn bắt chước, muốn thành đạt như họ. Suy nghĩ như vậy thật là lầm lẫn, bởi trong giao tiếp hay trong công việc họ đối xử cách khác, trong gia đình thì họ lại đối xử cách khác hơn. Cũng như đã nói ở những tiểu mục trước, con người ai cũng có mặt mạnh và mặt yếu, có cái tốt lẫn cái xấu. Vì vậy, bất cứ ta giao tiếp với ai, những người thành đạt hay những người thất bại thì cũng nên tuân theo nguyên tắc nhất định, đó là : “Sự Bình Đẳng”.
Những người chỉ biết dựa vào quyền hành, địa vị của mình để ra lệnh, bắt người khác phải tuân theo làm việc thì không bao giờ có thể hiểu được Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm là gì, không bao giờ có thể tiến lên chức vụ cao một cách chân chính.
Nếu có một ngày, những người khác không muốn ta nữa. Họ lo sợ ta nhờ vả, tìm cách từ chối thân cận thì đây chính là lúc ta cần phải xem xét lại cách đối nhân xử thế của ta rồi đó.
Một người lãnh đạo thông minh luôn biết quan tâm đến cấp dưới, luôn nghĩ đến sức khỏe, gia cảnh, hạnh phúc của cấp dưới. Họ khiến cho cấp dưới dựa vào họ, kính yêu họ, thật lòng quan tâm đến sự nghiệp của họ và cảm thấy day dứt nếu không giúp đỡ được cấp dưới thì mới là người biết sống cho người và cho chính mình.
Bạn hãy ghi nhớ nguyên tắc này : “Muốn được người giúp đỡ thì trước tiên phải giúp đỡ người. Giúp đỡ càng nhiều người thì càng nhận được nhiều sự giúp đỡ.”
Đừng để rơi vào thất bại
Trong tiểu mục này chúng ta sẽ bàn về một khía cạnh tâm lý của thất bại. "Thất bại" tất nhiên tâm lý sẽ bị tổn hại rất nhiều, nếu nặng hơn sẽ biến con người trở nên mất ý chí, vứt bỏ cuộc đời v..v. Vì vậy, trước khi làm bất cứ việc gì, cách tốt nhất là phải phát huy trí tuệ đến mức cực độ, hoạch định kỹ lưỡng cho cuộc đời. Đừng bao giờ phải lâm vào tình trạng thất bại.
Phàm là thất bại nhỏ sẽ không tính là thất bại, chỉ gọi là “Thất lợi” hay thất bại “Tạm thời”. Còn thất bại tuyệt đối hay thất bại sau cùng mới chính thức là “Thất Bại”, nhưng tuyệt đối không nên lấy thất bại làm kết cục cho cuộc đời.
Lưu Bang, Lưu Tú, Lưu Bị, Lý Thế Dân, Chu Nguyên Chương hay Võ Tắc Thiên v…v tất cả những người này đã không chỉ một lần lâm vào tình cảnh tuyệt vọng, không lối thoát. Nhưng cuối cùng Họ vẫn thành công là vì bất luận như thế nào, chỉ cần còn một hơi thở là họ liền suy tính giảm bớt thất bại thành thất lợi. Do đó mà không bị thất bại tuyệt đối. Nếu hiểu được ý nghĩa của nó, khi không còn con đường nào khác là đành phải hứng chịu "thất lợi" hay "thất bại tạm thời" thì vẫn còn cơ hội để khắc phục.
Đối với thất bại tạm thời : Gia Cát Lượng có thể được coi là điển hình về phương diện này. Thất bại tạm thời tuy khó tránh khỏi nhưng nếu kiên trì, can đảm thường có thể làm cho thất bại giảm đi rất nhiều. Bí quyết kì diệu không bao giờ thất bại là do :
1. Phân tích toàn diện các tình hình cần đối mặt rồi phán đoán phương hướng. Sau đó lập thành kế hoạch rõ ràng và thực tế.
2. Đưa ra sách lược quyết đoán và có tính mục đích cao.
3. Sẵn sàng đối mặt với thực tế, không để tình cảm làm ảnh hưởng đến quyết định. Phải thực hiện quyết sách và sách lược một cách có hệ thống, có cơ sở khách quan.
4. Nên cố gắng luyện tập theo tư tưởng “Cái khó ló cái khôn”. Phải có quyết tâm đem thất bại nhiều lần chuyển thành “Chiến thắng một lần”. Cổ nhân từng nói : “Thành Sự Tại Thiên, Mưu Sự Tại Nhân”. Nếu bạn không cố gắng thì không “Thiên” nào cho bạn thành sự được cả.
Phàm là thất bại nhỏ sẽ không tính là thất bại, chỉ gọi là “Thất lợi” hay thất bại “Tạm thời”. Còn thất bại tuyệt đối hay thất bại sau cùng mới chính thức là “Thất Bại”, nhưng tuyệt đối không nên lấy thất bại làm kết cục cho cuộc đời.
Lưu Bang, Lưu Tú, Lưu Bị, Lý Thế Dân, Chu Nguyên Chương hay Võ Tắc Thiên v…v tất cả những người này đã không chỉ một lần lâm vào tình cảnh tuyệt vọng, không lối thoát. Nhưng cuối cùng Họ vẫn thành công là vì bất luận như thế nào, chỉ cần còn một hơi thở là họ liền suy tính giảm bớt thất bại thành thất lợi. Do đó mà không bị thất bại tuyệt đối. Nếu hiểu được ý nghĩa của nó, khi không còn con đường nào khác là đành phải hứng chịu "thất lợi" hay "thất bại tạm thời" thì vẫn còn cơ hội để khắc phục.
Đối với thất bại tạm thời : Gia Cát Lượng có thể được coi là điển hình về phương diện này. Thất bại tạm thời tuy khó tránh khỏi nhưng nếu kiên trì, can đảm thường có thể làm cho thất bại giảm đi rất nhiều. Bí quyết kì diệu không bao giờ thất bại là do :
1. Phân tích toàn diện các tình hình cần đối mặt rồi phán đoán phương hướng. Sau đó lập thành kế hoạch rõ ràng và thực tế.
2. Đưa ra sách lược quyết đoán và có tính mục đích cao.
3. Sẵn sàng đối mặt với thực tế, không để tình cảm làm ảnh hưởng đến quyết định. Phải thực hiện quyết sách và sách lược một cách có hệ thống, có cơ sở khách quan.
4. Nên cố gắng luyện tập theo tư tưởng “Cái khó ló cái khôn”. Phải có quyết tâm đem thất bại nhiều lần chuyển thành “Chiến thắng một lần”. Cổ nhân từng nói : “Thành Sự Tại Thiên, Mưu Sự Tại Nhân”. Nếu bạn không cố gắng thì không “Thiên” nào cho bạn thành sự được cả.
Đừng thành thật với kẻ tiểu nhân
Thành thật là một đức tính mà người muốn đạt tới Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm cần phải rèn luyện. Đó là một sức mạnh tự nhiên khiến cho kẻ muốn “Manh Động” phải e dè, kẻ “Hung dữ” phải kính phục. Tuy nhiên đối với người có tính cách tiểu nhân thì ta không nên quá thành thật.
Kẻ tiểu nhân cũng có trí tuệ chẳng kém người quân tử nhưng “Thích” sử dụng thủ đoạn hơn là thẳng thắn đối phó. Họ vốn là người chuyên bới móc, truy tìm những khuyết điểm của người khác để làm lợi khí cho mình. Trong hành động lại sẵn sàng vì một chút ân oán nhỏ nhặt mà đối đáp bằng mọi giá. Đối phó với kẻ tiểu nhân không gì bằng giấu đi hết thực lực hay thói quen của mình.
Người giỏi xử thế tất nhiên phải có tài năng và giỏi đối phó với kẻ tiểu nhân. Như Quách Tự Nghĩa bình định loạn An Lộc lập nên công lớn nhưng ông không hề cậy công lao mà kiêu căng. Để tránh sự đố kỵ của bọn tiểu nhân, Ông vẫn hành sự một cách cẩn thận. Một lần, trong triều có một vị quan thấp phẩm hơn ông đến thăm. Chỉ là một chuyện bình thường nhưng Ông đột nhiên cho hết tất cả các thị nữ lánh mặt vào trong. Phu nhân ngạc nhiên hỏi thì Quách Tự Nghĩa cho biết là vị quan này rất tiểu nhân, thân cao không quá năm thước, tướng mạo lại xấu xí nên rất kỵ người khác nói là mình xấu. Quách Tự Nghĩa lo lắng đám thị Nữ trong nhà nhìn không biết được “Yếu điểm” đó, chỉ bật cười một cái là tai vạ khó lường đến với mình. Vì thế Ông mới để hết tất cả vào trong.
Rõ ràng, Quách Tự Nghĩa đã rất hiểu tính cách của kẻ tiểu nhân này nên mới có những hành động chi li như thế. Chẳng ngờ sau này, vị quan đó đã thăng chức rất mau, cuối cùng bước lên địa vị Tể Tướng. Đương nhiên hắn tích cực thực hiện việc trả thù tất cả những ai đã làm ông ta Phật Ý trước kia. Người bị hại không biết là bao nhiêu, riêng chỉ có Quách Tự Nghĩa là được ông tôn trọng, không hề động đến Ông một sợi lông. Việc này phản ánh Quách Tự Nghĩa dùng biện pháp đối phó kẻ tiểu nhân vừa hoàn hảo vừa lão luyện, có suy tính sâu xa chứ không phải tự nhiên mà đạt được.
Đề phòng kẻ tiểu nhân đương nhiên là có lợi nhưng không vì thế mà sợ hãi. Bạn tự hào là người tài năng, thừa thực lực đánh đổ những kẻ tiểu nhân hay chăng ? Nếu như ta biết đề phòng thì càng thêm thông thoáng đầu óc, không phí công sức vào cuộc tranh đấu vô bổ. Một khi đã nắm được giới hạn hành vi không tốt của kẻ tiểu nhân thì ta dễ dàng nghĩ ra biện pháp để đề phòng, ngăn cản ngay từ trong trứng nước. Vì thế, đề phòng kẻ tiểu nhân ngấm ngầm phá hoại công sức, sự nghiệp của chúng ta là điều tốt nhất.
Đề phòng không có hại, chỉ có thêm lợi ích là không để kẻ tiểu nhân trở thành “Thù Địch” mà ngược lại biết đâu họ sẽ trở nên thân thiện hay nể phục ta hơn thì sao !!! Muốn được vậy, ta phải nắm được mấy điểm sau để phòng kẻ tiểu nhân :
1. Phân biệt được kẻ tiểu nhân, nắm được sở thích và kiêng kỵ của họ.
2. Lời nói và hành động phải kín đáo, có sự chuẩn bị, không tỏ ra lo sợ, cẩn thận đề phòng.
3. Vào thời điểm quan trọng phải sáng suốt, suy nghĩ chín chắn. Đừng để mắc lừa cái bẫy mà họ đã tính toán sẵn chờ chúng ta rơi vào.
Kẻ tiểu nhân cũng có trí tuệ chẳng kém người quân tử nhưng “Thích” sử dụng thủ đoạn hơn là thẳng thắn đối phó. Họ vốn là người chuyên bới móc, truy tìm những khuyết điểm của người khác để làm lợi khí cho mình. Trong hành động lại sẵn sàng vì một chút ân oán nhỏ nhặt mà đối đáp bằng mọi giá. Đối phó với kẻ tiểu nhân không gì bằng giấu đi hết thực lực hay thói quen của mình.
Người giỏi xử thế tất nhiên phải có tài năng và giỏi đối phó với kẻ tiểu nhân. Như Quách Tự Nghĩa bình định loạn An Lộc lập nên công lớn nhưng ông không hề cậy công lao mà kiêu căng. Để tránh sự đố kỵ của bọn tiểu nhân, Ông vẫn hành sự một cách cẩn thận. Một lần, trong triều có một vị quan thấp phẩm hơn ông đến thăm. Chỉ là một chuyện bình thường nhưng Ông đột nhiên cho hết tất cả các thị nữ lánh mặt vào trong. Phu nhân ngạc nhiên hỏi thì Quách Tự Nghĩa cho biết là vị quan này rất tiểu nhân, thân cao không quá năm thước, tướng mạo lại xấu xí nên rất kỵ người khác nói là mình xấu. Quách Tự Nghĩa lo lắng đám thị Nữ trong nhà nhìn không biết được “Yếu điểm” đó, chỉ bật cười một cái là tai vạ khó lường đến với mình. Vì thế Ông mới để hết tất cả vào trong.
Rõ ràng, Quách Tự Nghĩa đã rất hiểu tính cách của kẻ tiểu nhân này nên mới có những hành động chi li như thế. Chẳng ngờ sau này, vị quan đó đã thăng chức rất mau, cuối cùng bước lên địa vị Tể Tướng. Đương nhiên hắn tích cực thực hiện việc trả thù tất cả những ai đã làm ông ta Phật Ý trước kia. Người bị hại không biết là bao nhiêu, riêng chỉ có Quách Tự Nghĩa là được ông tôn trọng, không hề động đến Ông một sợi lông. Việc này phản ánh Quách Tự Nghĩa dùng biện pháp đối phó kẻ tiểu nhân vừa hoàn hảo vừa lão luyện, có suy tính sâu xa chứ không phải tự nhiên mà đạt được.
Đề phòng kẻ tiểu nhân đương nhiên là có lợi nhưng không vì thế mà sợ hãi. Bạn tự hào là người tài năng, thừa thực lực đánh đổ những kẻ tiểu nhân hay chăng ? Nếu như ta biết đề phòng thì càng thêm thông thoáng đầu óc, không phí công sức vào cuộc tranh đấu vô bổ. Một khi đã nắm được giới hạn hành vi không tốt của kẻ tiểu nhân thì ta dễ dàng nghĩ ra biện pháp để đề phòng, ngăn cản ngay từ trong trứng nước. Vì thế, đề phòng kẻ tiểu nhân ngấm ngầm phá hoại công sức, sự nghiệp của chúng ta là điều tốt nhất.
Đề phòng không có hại, chỉ có thêm lợi ích là không để kẻ tiểu nhân trở thành “Thù Địch” mà ngược lại biết đâu họ sẽ trở nên thân thiện hay nể phục ta hơn thì sao !!! Muốn được vậy, ta phải nắm được mấy điểm sau để phòng kẻ tiểu nhân :
1. Phân biệt được kẻ tiểu nhân, nắm được sở thích và kiêng kỵ của họ.
2. Lời nói và hành động phải kín đáo, có sự chuẩn bị, không tỏ ra lo sợ, cẩn thận đề phòng.
3. Vào thời điểm quan trọng phải sáng suốt, suy nghĩ chín chắn. Đừng để mắc lừa cái bẫy mà họ đã tính toán sẵn chờ chúng ta rơi vào.
Tránh xa kẻ liều mạng
Có thể nói, người liều mạng là loại người trong cuộc sống làm cho ta đau đầu nhất, bởi vì họ không còn xem sống chết ra gì thì còn tính toán gì đến danh dự, thể diện hay lợi lộc gì nữa ư ? Dù chúng ta có “Tuấn Kiệt” đến đâu, "Trí Tuệ" đến mấy mà gặp phải loại người này sẽ không tránh khỏi lúng túng và thiệt hại. May mắn thì thiệt hại ít một chút, bằng không có thể sẽ “Chết” theo đối phương.
Đặc điểm lớn nhất của người liều mạng là họ sống rất cực đoan, thường đem sinh mạng của mình ra đặt cược trong bất cứ tình huống nào, không hề nghĩ đến thua hay sẽ thua như thế nào ? Theo phân tích của khoa học thì những loại người này có não bộ không được bình thường. Còn nếu bình thường mà vẫn hình thành tính cách liều mạng thì đây lại là người có phẩm chất tồi tệ nhất. Vì họ ỷ vào việc không “Tham sống sợ chết” mà lấy đó để dọa nạt người khác, điển hình như : “Có mày thì không có tao, có tao thì không có mày v..v” nên họ càng tự hào và kiêu căng hơn.
Người liều mạng thường có ý thức kém nên trong mắt họ thì những luân lý đạo đức, chính nghĩa hay luật pháp không đáng một xu. Muốn tìm cách đối phó với họ là hoàn toàn không có lợi chút nào. Thậm chí nếu dựa vào pháp luật mà đưa họ vào tù, thì sau khi họ ra trại, khi ấy nguy cơ càng cao hơn một chút.
Dĩ nhiên, trường hợp nào cũng có cách đối phó tương xứng. Chúng ta có thể chịu thiệt một chút, dùng “Nhu hòa” như nhân nghĩa hay tình cảm để thuyết phục dần dần họ. Nhưng cách tốt nhất vẫn là tránh xa họ .
Không đối phó với họ là để tránh họ làm hỏng việc chính của mình. Đó cũng là thủ thuật “Tránh cường đoạt nhược” trong 72 kế sách của người xưa. Nếu như để những phiền phức, rắc rối không cần thiết làm loạn tâm trí, chen vào phá phách sự phát triển thì khó lường sự việc sẽ còn diễn tiến ra sao.
Trong xã hội, kẻ liều mạng sớm muộn gỉ cũng bị trừng phạt, nếu chúng ta giao tiếp quá thân mật hay dính líu đến hoạt động của họ thì sẽ rất dễ bị liên lụy. Cho nên, ta cần phải chú ý nhận ra để tránh xa họ. Còn nếu như ta muốn nâng Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm lên một thứ hạng cao, muốn “Cải hóa” những người này thì trước tiên phải phân biệt được các tính cách sau :
1. Liều mạng vì bản chất hay do bẩm sinh : Thí dụ như não bộ có vấn đề.
2. Liều mạng do nhận thức, hoàn cảnh quá tệ hại hay do môi trường hình thành nên.
3. Liều mạng do thói quen : Thí dụ một lần “Bất Đắc Dĩ” dùng phương cách này mà thành công lớn. Sau đó tiếp tục vài lần vẫn không ai dám chống trả thì sẽ quen dần, bất cứ việc gì cũng đem ra áp dụng.
>> Đối với loại thứ nhất thì chắc chắn phải tránh xa vì con người không thể vượt tạo hóa để cải sữa được. Đối với loại thứ 2 và 3 thì chúng ta có thể giao tiếp trong một chừng mực nào đó, nhẹ nhàng tiến hành cho họ những bài học thấm thía về đạo lý, nhân nghĩa, tuyệt đỉnh của cuộc sống tươi đẹp, nhân cách con người là như thế nào ? .v..v
Người liều mạng lại phân biệt ra hai hình thái theo biểu hiện cư xử :
A. Một là hung hãn tàn nhẫn bộc lộ một cách rõ ràng. Loại người này rất dễ phân biệt và nên tránh xa.
B. Hai là ít biểu hiện trong thường ngày, rất khó phát hiện hoặc ngẫu nhiên mới lộ ra. Vì họ biết cách tự kiềm chế nhưng khi gặp thời cơ thì họ giống như củi khô gặp lửa to khiến người không kịp trở tay. Vì không thể nhận ra ngay loại người liều mạng này. Trong giao tiếp nếu có dấu hiệu nghi ngờ thì nên giữ một khoảng cách nhất định mới kịp ứng xử nhé.
Đặc điểm lớn nhất của người liều mạng là họ sống rất cực đoan, thường đem sinh mạng của mình ra đặt cược trong bất cứ tình huống nào, không hề nghĩ đến thua hay sẽ thua như thế nào ? Theo phân tích của khoa học thì những loại người này có não bộ không được bình thường. Còn nếu bình thường mà vẫn hình thành tính cách liều mạng thì đây lại là người có phẩm chất tồi tệ nhất. Vì họ ỷ vào việc không “Tham sống sợ chết” mà lấy đó để dọa nạt người khác, điển hình như : “Có mày thì không có tao, có tao thì không có mày v..v” nên họ càng tự hào và kiêu căng hơn.
Người liều mạng thường có ý thức kém nên trong mắt họ thì những luân lý đạo đức, chính nghĩa hay luật pháp không đáng một xu. Muốn tìm cách đối phó với họ là hoàn toàn không có lợi chút nào. Thậm chí nếu dựa vào pháp luật mà đưa họ vào tù, thì sau khi họ ra trại, khi ấy nguy cơ càng cao hơn một chút.
Dĩ nhiên, trường hợp nào cũng có cách đối phó tương xứng. Chúng ta có thể chịu thiệt một chút, dùng “Nhu hòa” như nhân nghĩa hay tình cảm để thuyết phục dần dần họ. Nhưng cách tốt nhất vẫn là tránh xa họ .
Không đối phó với họ là để tránh họ làm hỏng việc chính của mình. Đó cũng là thủ thuật “Tránh cường đoạt nhược” trong 72 kế sách của người xưa. Nếu như để những phiền phức, rắc rối không cần thiết làm loạn tâm trí, chen vào phá phách sự phát triển thì khó lường sự việc sẽ còn diễn tiến ra sao.
Trong xã hội, kẻ liều mạng sớm muộn gỉ cũng bị trừng phạt, nếu chúng ta giao tiếp quá thân mật hay dính líu đến hoạt động của họ thì sẽ rất dễ bị liên lụy. Cho nên, ta cần phải chú ý nhận ra để tránh xa họ. Còn nếu như ta muốn nâng Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm lên một thứ hạng cao, muốn “Cải hóa” những người này thì trước tiên phải phân biệt được các tính cách sau :
1. Liều mạng vì bản chất hay do bẩm sinh : Thí dụ như não bộ có vấn đề.
2. Liều mạng do nhận thức, hoàn cảnh quá tệ hại hay do môi trường hình thành nên.
3. Liều mạng do thói quen : Thí dụ một lần “Bất Đắc Dĩ” dùng phương cách này mà thành công lớn. Sau đó tiếp tục vài lần vẫn không ai dám chống trả thì sẽ quen dần, bất cứ việc gì cũng đem ra áp dụng.
>> Đối với loại thứ nhất thì chắc chắn phải tránh xa vì con người không thể vượt tạo hóa để cải sữa được. Đối với loại thứ 2 và 3 thì chúng ta có thể giao tiếp trong một chừng mực nào đó, nhẹ nhàng tiến hành cho họ những bài học thấm thía về đạo lý, nhân nghĩa, tuyệt đỉnh của cuộc sống tươi đẹp, nhân cách con người là như thế nào ? .v..v
Người liều mạng lại phân biệt ra hai hình thái theo biểu hiện cư xử :
A. Một là hung hãn tàn nhẫn bộc lộ một cách rõ ràng. Loại người này rất dễ phân biệt và nên tránh xa.
B. Hai là ít biểu hiện trong thường ngày, rất khó phát hiện hoặc ngẫu nhiên mới lộ ra. Vì họ biết cách tự kiềm chế nhưng khi gặp thời cơ thì họ giống như củi khô gặp lửa to khiến người không kịp trở tay. Vì không thể nhận ra ngay loại người liều mạng này. Trong giao tiếp nếu có dấu hiệu nghi ngờ thì nên giữ một khoảng cách nhất định mới kịp ứng xử nhé.
Biết thời thế mới là tuấn kiệt
“Biết thời thế mới là Tuấn Kiệt” là câu nói được đúc kết từ những kinh nghiệm quý báu của tổ tiên để lại. Mọi tình huống trong cuộc sống luôn biến hóa rất phức tạp. Vì vậy đối với ý nghĩa sinh tồn thì “Biết thời thế” có hai dụng ý :
1. Phòng bị trước :
Tức là ta phải luôn chú ý đến sự thay đổi của môi trường, thu thập ý kiến của người khác, đánh giá sự phát triển trong tương lai. Như vậy sẽ có thể tránh được sự tổn hại thấp nhất khi có việc bất ngờ xảy đến, đồng thời hành động phải nhanh hơn người khác một bước.
2. Linh hoạt ứng phó với tình hình thay đổi, chuyển nguy thành an:
Khi gặp nguy hiểm, cách tốt nhất là nên giữ vững ý chí, nhận định đối phương rồi tìm cách xử lý phù hợp sao cho có lợi cho mình. Thường thì đã lâm vào tình hình nguy hiểm thì hiếm khi ta có thể chuyển nguy thành an, nếu như không có tác động mạnh mẽ của ngoại lai trợ giúp. Chắc chắn chúng ta cũng sẽ tổn hại không ít, nhưng nếu đứng vững được thì cũng là “Tuấn Kiệt” rồi.
- Người “Biết thời thế” bao giờ cũng phán đoán và dự trù được những nguy hiểm sẽ xảy ra. Luôn luôn có sự phòng bị trước. Nếu không ngăn cản được nguy hiểm mà vẫn có thể chuyển nguy thành an thì mới thật là “Tuấn Kiệt”, xứng đáng để cho người nể phục.
- Song điều đáng để bàn luận ở đây không phải là như thế nào để hóa giải nguy cơ một cách trí tuệ, mà phải là biết linh hoạt ứng phó với tình hình thay đổi, thuận theo thay đổi ấy để có thể chuyển nguy thành an. Một người bình thường nếu đối mặt với những nguy cơ thì ngoài suy nghĩ đến khả năng của bản thân ra thì còn nghĩ đến thể diện, địa vị, sự thiệt hại v..v và tất nhiên sẽ rất do dự trong quyết đoán.
- Thật ra những thứ đó chỉ có giá trị trong lúc chúng ta đang bình yên. Một khi nguy cơ đưa đến, tức là ranh giới giữa sự sống và cái chết gần kề thì những giá trị ấy không đáng một xu. Thậm chí còn trở thành gánh nặng, làm cho ta sai lầm khi quyết đoán. Ta cứ nghĩ xem, nếu ta thất bại bị rơi xuống đáy sâu của xã hội hay là kẻ bại tướng trên chiến trường thì còn thể diện hay tư cách nữa ư ?
Chúng ta thiếu xót trong tính toán, để cho nguy hiểm xảy đến nhưng không còn cách nào tháo gỡ thì phải làm sao ? Dĩ nhiên, đây là trường hợp xấu nhất nhưng nếu như ta “Biết thời thế” mà rút lui đúng lúc để bảo tồn danh dự thì cũng có thể gọi là “Tuấn Kiệt”. Còn như liều lĩnh mang hết thực lực để sống chết một phen, cho rằng dù chết cũng vinh quang mới chính là thiếu tính thất thời, không được xưng tụng là “Tuấn Kiệt”.
Ví như Hàn Tín xuyên qua biết bao công trận, mưu lược như thần, không ai không thán phục nhưng cũng chỉ được người đời coi là “Anh hùng kiệt xuất” mà thôi. Nếu nói về “Tuấn Kiệt” thì còn thua xa Trương Lương, Trần Bình, những kẻ sĩ không có sức mạnh bằng một tên quân. Hoặc như Tôn Võ, một đại sư về binh pháp. Biết lúc nào nên làm, dám chém đầu cả ái phi của Ngô Vương khi biết mình có thể, nhưng lại biết rút lui khi không còn thời thế. Vui vẻ ra đi chẳng luyến tiếc công lao hãn mã của mình. Trước khi từ biệt Ngũ Viên, Tôn Võ còn tiên đoán sau này chính nước Việt mới là cường quốc tiêu diệt nước Ngô. Thế thì tại sao ông không qua nước Việt phò tá ? “Tuấn Kiệt” hay không chính là điểm này. Nhưng Tôn Võ không phải là người thích “Gió chiều nào xuôi chiều ấy”, Ông không thể làm người vừa giúp Ngô xong rồi lại giúp Việt. “Biết thời thế” thì còn nhiều phương cách đối phó mà rút lui ẩn dật cũng là một phương cách khiến người đời kính phục vô cùng.
1. Phòng bị trước :
Tức là ta phải luôn chú ý đến sự thay đổi của môi trường, thu thập ý kiến của người khác, đánh giá sự phát triển trong tương lai. Như vậy sẽ có thể tránh được sự tổn hại thấp nhất khi có việc bất ngờ xảy đến, đồng thời hành động phải nhanh hơn người khác một bước.
2. Linh hoạt ứng phó với tình hình thay đổi, chuyển nguy thành an:
Khi gặp nguy hiểm, cách tốt nhất là nên giữ vững ý chí, nhận định đối phương rồi tìm cách xử lý phù hợp sao cho có lợi cho mình. Thường thì đã lâm vào tình hình nguy hiểm thì hiếm khi ta có thể chuyển nguy thành an, nếu như không có tác động mạnh mẽ của ngoại lai trợ giúp. Chắc chắn chúng ta cũng sẽ tổn hại không ít, nhưng nếu đứng vững được thì cũng là “Tuấn Kiệt” rồi.
- Người “Biết thời thế” bao giờ cũng phán đoán và dự trù được những nguy hiểm sẽ xảy ra. Luôn luôn có sự phòng bị trước. Nếu không ngăn cản được nguy hiểm mà vẫn có thể chuyển nguy thành an thì mới thật là “Tuấn Kiệt”, xứng đáng để cho người nể phục.
- Song điều đáng để bàn luận ở đây không phải là như thế nào để hóa giải nguy cơ một cách trí tuệ, mà phải là biết linh hoạt ứng phó với tình hình thay đổi, thuận theo thay đổi ấy để có thể chuyển nguy thành an. Một người bình thường nếu đối mặt với những nguy cơ thì ngoài suy nghĩ đến khả năng của bản thân ra thì còn nghĩ đến thể diện, địa vị, sự thiệt hại v..v và tất nhiên sẽ rất do dự trong quyết đoán.
- Thật ra những thứ đó chỉ có giá trị trong lúc chúng ta đang bình yên. Một khi nguy cơ đưa đến, tức là ranh giới giữa sự sống và cái chết gần kề thì những giá trị ấy không đáng một xu. Thậm chí còn trở thành gánh nặng, làm cho ta sai lầm khi quyết đoán. Ta cứ nghĩ xem, nếu ta thất bại bị rơi xuống đáy sâu của xã hội hay là kẻ bại tướng trên chiến trường thì còn thể diện hay tư cách nữa ư ?
Chúng ta thiếu xót trong tính toán, để cho nguy hiểm xảy đến nhưng không còn cách nào tháo gỡ thì phải làm sao ? Dĩ nhiên, đây là trường hợp xấu nhất nhưng nếu như ta “Biết thời thế” mà rút lui đúng lúc để bảo tồn danh dự thì cũng có thể gọi là “Tuấn Kiệt”. Còn như liều lĩnh mang hết thực lực để sống chết một phen, cho rằng dù chết cũng vinh quang mới chính là thiếu tính thất thời, không được xưng tụng là “Tuấn Kiệt”.
Ví như Hàn Tín xuyên qua biết bao công trận, mưu lược như thần, không ai không thán phục nhưng cũng chỉ được người đời coi là “Anh hùng kiệt xuất” mà thôi. Nếu nói về “Tuấn Kiệt” thì còn thua xa Trương Lương, Trần Bình, những kẻ sĩ không có sức mạnh bằng một tên quân. Hoặc như Tôn Võ, một đại sư về binh pháp. Biết lúc nào nên làm, dám chém đầu cả ái phi của Ngô Vương khi biết mình có thể, nhưng lại biết rút lui khi không còn thời thế. Vui vẻ ra đi chẳng luyến tiếc công lao hãn mã của mình. Trước khi từ biệt Ngũ Viên, Tôn Võ còn tiên đoán sau này chính nước Việt mới là cường quốc tiêu diệt nước Ngô. Thế thì tại sao ông không qua nước Việt phò tá ? “Tuấn Kiệt” hay không chính là điểm này. Nhưng Tôn Võ không phải là người thích “Gió chiều nào xuôi chiều ấy”, Ông không thể làm người vừa giúp Ngô xong rồi lại giúp Việt. “Biết thời thế” thì còn nhiều phương cách đối phó mà rút lui ẩn dật cũng là một phương cách khiến người đời kính phục vô cùng.
Con giun xéo mãi cũng quằn
Tôn Võ có một câu nói rất nổi tiếng :
“Đừng truy giặc cùng đường”.
Đối với kẻ địch đã cùng đường, không còn gì để mất ắt sẽ quay lại liều mạng. Khi đã liều mạng tất dũng khí sẽ tăng lên rất nhiều. Chính điều đó sẽ làm cho tâm lý tinh thần của chúng ta “Tự nhiên sợ hãi”.
Tâm lý này cũng được đề cập trong dân gian bằng câu ngạn ngữ :
“Đừng dồn Hổ vào đường cùng”
hay
“Khuyển gặp nguy cũng sẽ nhảy tường, Thỏ gặp nguy cũng sẽ quay lại cắn người”.
>> Nếu như nhất quyết phải “Tận diệt” đối phương đang chạy vào đường cùng, chúng ta không bị thất bại thì nguyên khí cũng sẽ bị hao tổn mà thôi.
Trong ứng xử cũng vậy, ta biết đó là kẻ tiểu nhân nhưng nếu như ta dồn hắn vào đường cùng thì chắc chắc hắn sẽ chống trả lại quyết liệt, không từ một thủ đoạn nào. Thậm chí hắn sẽ liều mạng cho cả hai cùng chết. Điều này thật không có lợi cho chúng ta trong ứng xử hay trong môi trường kinh doanh.
Có một câu chuyện trong đời thật như thế này : Cơ quan của anh ta quyết định phân cho anh ta căn nhà. Trong quá trình giao nhà, chủ cũ yêu cầu anh ta trả phí tổn sửa sang căn hộ, cứ theo giá ban đầu của vật liệu mà thanh toán tiền. Đây là điều hợp lý nên anh ta vui vẻ chấp nhận. Nhưng đến hôm giao chìa khóa, chủ nhà lại yêu cầu anh phải trả phần lợi tức của khoản tiền mua căn nhà.
Anh ta mới thốt lên :
“Thật quá đáng, đồ đạc của hắn ta hiện nay trên thị trường chỉ cần nửa số tiền là mua được, tôi đã vui vẻ chịu thiệt thòi rồi. Nếu tính kỹ thì tôi đã phải trả cho hắn tiền mua nhà, chẳng khác gì hoàn lại tiền ở cho hắn hơn một năm rưỡi vậy. Thế mà nay hắn lại còn đòi trả thêm phần lợi tức thì vô lý hết sức”.
Anh ta tức quá làm liều, cạy khóa phá cửa xông vào trong nhà, nói thẳng :
“Tôi không phải là kẻ đi thu dọn những đồ vứt đi, mời anh đem hết những đồ đạc của anh đi cho”.
Chủ nhà đuối lý, đành phải nuốt quả đắng vì muốn dồn người khác đến đường cùng.
Trong thực tế cuộc sống có rất nhiều người bình thường chẳng nói chẳng rằng, rất thân thiện với mọi người, làm việc rất cẩn thận, tình nguyện chịu thiệt nhưng một khi đã chạm đến lợi ích nào đó của họ thì bổng nhiên thay đổi hoàn toàn, giống như câu : “Chó không sủa là Chó cắn người dữ nhất”.
"Khi chúng ta cho rằng đã chặn hết các cơ hội của đối phương thì cũng là lúc chúng ta đã làm mất hết cơ hội cho chính mình". Khi chúng ta ép một đối thủ vào ngõ cụt thì cần phải suy nghĩ kỹ và đảm bảo rằng ở bên ngoài cái ngõ cụt ấy sẽ không có đối phương nào đang chờ đợi để dồn ta vào chỗ chết chứ ? Kẻ bị Ta dồn vào đường cùng sẽ quay lại liều mạng, còn đối phương bên ngoài thì thừa “Nước Đục Thả Câu”. Như thế Ta không chết thì cũng sẽ bị thương trầm trọng thôi. Vậy hà cớ gì phải tuyệt tình với người cùng đường ? Hơn nữa, sự việc thường phát triển rất đa dạng, khi ta tưởng rằng đã dồn đối phương vào đường cùng thì đột ngột xuất hiện vị cứu tinh nào đó. Lúc ấy không những ta không tiêu diệt được đối phương mà sau này còn phải đối phó thêm với vị “Cứu tinh” ấy nữa. Chẳng phải là “Lợi bất cập hại” hay sao? Bất luận như thế nào thì cũng phải để cho đối phương một con đường đê lui. Khoan dung cho người cũng tức là khoan dung cho chính mình nếu lỡ như sau này chúng ta gặp phải tình huống “Bị dồn vào đường cùng” vậy.
“Đừng truy giặc cùng đường”.
Đối với kẻ địch đã cùng đường, không còn gì để mất ắt sẽ quay lại liều mạng. Khi đã liều mạng tất dũng khí sẽ tăng lên rất nhiều. Chính điều đó sẽ làm cho tâm lý tinh thần của chúng ta “Tự nhiên sợ hãi”.
Tâm lý này cũng được đề cập trong dân gian bằng câu ngạn ngữ :
“Đừng dồn Hổ vào đường cùng”
hay
“Khuyển gặp nguy cũng sẽ nhảy tường, Thỏ gặp nguy cũng sẽ quay lại cắn người”.
>> Nếu như nhất quyết phải “Tận diệt” đối phương đang chạy vào đường cùng, chúng ta không bị thất bại thì nguyên khí cũng sẽ bị hao tổn mà thôi.
Trong ứng xử cũng vậy, ta biết đó là kẻ tiểu nhân nhưng nếu như ta dồn hắn vào đường cùng thì chắc chắc hắn sẽ chống trả lại quyết liệt, không từ một thủ đoạn nào. Thậm chí hắn sẽ liều mạng cho cả hai cùng chết. Điều này thật không có lợi cho chúng ta trong ứng xử hay trong môi trường kinh doanh.
Có một câu chuyện trong đời thật như thế này : Cơ quan của anh ta quyết định phân cho anh ta căn nhà. Trong quá trình giao nhà, chủ cũ yêu cầu anh ta trả phí tổn sửa sang căn hộ, cứ theo giá ban đầu của vật liệu mà thanh toán tiền. Đây là điều hợp lý nên anh ta vui vẻ chấp nhận. Nhưng đến hôm giao chìa khóa, chủ nhà lại yêu cầu anh phải trả phần lợi tức của khoản tiền mua căn nhà.
Anh ta mới thốt lên :
“Thật quá đáng, đồ đạc của hắn ta hiện nay trên thị trường chỉ cần nửa số tiền là mua được, tôi đã vui vẻ chịu thiệt thòi rồi. Nếu tính kỹ thì tôi đã phải trả cho hắn tiền mua nhà, chẳng khác gì hoàn lại tiền ở cho hắn hơn một năm rưỡi vậy. Thế mà nay hắn lại còn đòi trả thêm phần lợi tức thì vô lý hết sức”.
Anh ta tức quá làm liều, cạy khóa phá cửa xông vào trong nhà, nói thẳng :
“Tôi không phải là kẻ đi thu dọn những đồ vứt đi, mời anh đem hết những đồ đạc của anh đi cho”.
Chủ nhà đuối lý, đành phải nuốt quả đắng vì muốn dồn người khác đến đường cùng.
Trong thực tế cuộc sống có rất nhiều người bình thường chẳng nói chẳng rằng, rất thân thiện với mọi người, làm việc rất cẩn thận, tình nguyện chịu thiệt nhưng một khi đã chạm đến lợi ích nào đó của họ thì bổng nhiên thay đổi hoàn toàn, giống như câu : “Chó không sủa là Chó cắn người dữ nhất”.
"Khi chúng ta cho rằng đã chặn hết các cơ hội của đối phương thì cũng là lúc chúng ta đã làm mất hết cơ hội cho chính mình". Khi chúng ta ép một đối thủ vào ngõ cụt thì cần phải suy nghĩ kỹ và đảm bảo rằng ở bên ngoài cái ngõ cụt ấy sẽ không có đối phương nào đang chờ đợi để dồn ta vào chỗ chết chứ ? Kẻ bị Ta dồn vào đường cùng sẽ quay lại liều mạng, còn đối phương bên ngoài thì thừa “Nước Đục Thả Câu”. Như thế Ta không chết thì cũng sẽ bị thương trầm trọng thôi. Vậy hà cớ gì phải tuyệt tình với người cùng đường ? Hơn nữa, sự việc thường phát triển rất đa dạng, khi ta tưởng rằng đã dồn đối phương vào đường cùng thì đột ngột xuất hiện vị cứu tinh nào đó. Lúc ấy không những ta không tiêu diệt được đối phương mà sau này còn phải đối phó thêm với vị “Cứu tinh” ấy nữa. Chẳng phải là “Lợi bất cập hại” hay sao? Bất luận như thế nào thì cũng phải để cho đối phương một con đường đê lui. Khoan dung cho người cũng tức là khoan dung cho chính mình nếu lỡ như sau này chúng ta gặp phải tình huống “Bị dồn vào đường cùng” vậy.
Biết sửa đổi sai lầm
- Trên thế gian này, con người không ai không khỏi phạm phải những sai lầm. Ngay cả con voi to lớn, vững vàng thế kia cũng có lúc bị ngã. Nếu như muốn tránh những sai lầm ấy bằng cách không làm gì cả thì đó lại là sai lầm cơ bản nhất trong đời người. Vì vậy, chúng ta cần phải sửa soạn tâm lý một khi phạm phải sai lầm và cả tâm lý phục thiện bằng cách :
- Tự kiểm lại mình mỗi khi hành xử xong một việc gì đó xem thử mình có sai xót ở đâu hay không. Tuy nhiên, biết mình làm sai nhưng có chịu hối hận, có tỉnh ngộ hay không lại là một điều khó. Đối với nhiều người, vì bản chất tự tôn: “Trách người thì dễ nhưng trách mình lại khó”.
Cảnh Hành Lục từng nói :
“Tự yêu mình thì chưa chắc đã thành người tốt, nhưng nếu tự khinh mình tất là người tự lừa dối mình vậy”
chính là muốn khuyên răn con người đừng bao giờ tự lừa dối bản thân.
Thực tế trong xã hội ngày nay, có rất nhiều người nhận ra lỗi lầm nhưng lại “Chủ Quan” dùng lý lẽ nào đó để tự biện hộ rồi “Sung sướng” hưởng thụ thành quả không chính đáng đó. Chính họ đã tự lừa dối bản thân mình thì làm sao mà còn tự trách được mình ?
Nếu không tự kiểm tra lại mình, chúng ta sẽ không biết được những khuyết điểm, thiếu xót của chính bản thân mình. Không hối hận, phục thiện, chấp nhận sửa đổi sai lầm thì sẽ không tiến bộ được. Tuy nhiên sự hối hận cũng nên dừng ở mức độ vừa phải, đừng quá lố sẽ biến thành con người bi quan vì suốt đời “Bị lương tâm cắn rứt”, không thể nào làm được việc gì dứt khoát nữa.
Bài học nào cũng có “Cái giá” của nó và Ta đừng vì thế mà tự trách mình quá đáng. Khi Ta biết được sự hối hận và sự tự trách đã đi quá xa thì hãy tin tưởng rằng mình có thể khống chế bằng cách hãy tự nói với mình : “Hãy mau chóng dừng lại mọi sự trách cứ của bản thân bởi vì đó là một loại bệnh về tinh thần, lấy hành động nào đó bù đắp lại sai lầm còn hơn là cứ ngồi mà tự trách mình…”
Khi làm sai mà không hối hận, sửa đổi thì đó là người xấu. Còn biết hối hận và thay đổi thì đó là người Tốt. Đức Phật thường khuyên : “Đồ tể biết buông đao xuống tức sẽ thành Phật”. Rõ ràng những chuyện đã qua thì không thể nào quay lại được. Chúng ta đừng nên “Than thân trách phận” rồi bỏ qua, lỗi lầm ấy không vì thế mà bù đắp lại được. Chi bằng ta hãy tìm một việc gì khác có ý nghĩa hơn để bù đắp, có phải là tốt hơn không ?
Người có tinh thần mạnh mẽ, thích cuộc sống đạo đức nhưng vô tình phạm phải sai lầm to tát nào đó thì rất dễ từ sự tự trách dẫn đến tự ti, làm cho con người thoái hóa về tinh thần, mất đi sự tự tin vào chính mình và rất dễ nảy sinh sự hoài nghi đối với tất cả những người xung quanh.
Giống như lời giảng của vị cao tăng :
“Vốn dĩ trong cuộc sống con người là chẳng có chuyện gì. Mọi ưu phiền đều do con người tự nghĩ ra, tự lấy phiền não trói buộc mình mà thôi”
Đương nhiên, làm người tốt thì được người quí mến nhưng cũng không nên “Tốt” đến mức quên mình, càng không nên hi vọng mình tốt đến không có khuyết điểm nào. Chúng ta chỉ cần sửa soạn tâm lý sửa sai một khi phạm lỗi thì chẳng bao lâu Ta sẽ trở thành một người có nhân cách đạo đức trong xã hội mà thôi.
>> Một người tốt kiện toàn nên làm những gì nên làm, nên nói những gì cần nói. Mọi việc chỉ yêu cầu sự hợp tình hợp lý là đủ rồi. Tuy nhiên, phạm sai lầm mà không rủ bỏ được sự tự trách hoặc không chịu hối hận thay đổi cũng là một sự ngược đãi đối với bản thân mình.
- Tự kiểm lại mình mỗi khi hành xử xong một việc gì đó xem thử mình có sai xót ở đâu hay không. Tuy nhiên, biết mình làm sai nhưng có chịu hối hận, có tỉnh ngộ hay không lại là một điều khó. Đối với nhiều người, vì bản chất tự tôn: “Trách người thì dễ nhưng trách mình lại khó”.
Cảnh Hành Lục từng nói :
“Tự yêu mình thì chưa chắc đã thành người tốt, nhưng nếu tự khinh mình tất là người tự lừa dối mình vậy”
chính là muốn khuyên răn con người đừng bao giờ tự lừa dối bản thân.
Thực tế trong xã hội ngày nay, có rất nhiều người nhận ra lỗi lầm nhưng lại “Chủ Quan” dùng lý lẽ nào đó để tự biện hộ rồi “Sung sướng” hưởng thụ thành quả không chính đáng đó. Chính họ đã tự lừa dối bản thân mình thì làm sao mà còn tự trách được mình ?
Nếu không tự kiểm tra lại mình, chúng ta sẽ không biết được những khuyết điểm, thiếu xót của chính bản thân mình. Không hối hận, phục thiện, chấp nhận sửa đổi sai lầm thì sẽ không tiến bộ được. Tuy nhiên sự hối hận cũng nên dừng ở mức độ vừa phải, đừng quá lố sẽ biến thành con người bi quan vì suốt đời “Bị lương tâm cắn rứt”, không thể nào làm được việc gì dứt khoát nữa.
Bài học nào cũng có “Cái giá” của nó và Ta đừng vì thế mà tự trách mình quá đáng. Khi Ta biết được sự hối hận và sự tự trách đã đi quá xa thì hãy tin tưởng rằng mình có thể khống chế bằng cách hãy tự nói với mình : “Hãy mau chóng dừng lại mọi sự trách cứ của bản thân bởi vì đó là một loại bệnh về tinh thần, lấy hành động nào đó bù đắp lại sai lầm còn hơn là cứ ngồi mà tự trách mình…”
Khi làm sai mà không hối hận, sửa đổi thì đó là người xấu. Còn biết hối hận và thay đổi thì đó là người Tốt. Đức Phật thường khuyên : “Đồ tể biết buông đao xuống tức sẽ thành Phật”. Rõ ràng những chuyện đã qua thì không thể nào quay lại được. Chúng ta đừng nên “Than thân trách phận” rồi bỏ qua, lỗi lầm ấy không vì thế mà bù đắp lại được. Chi bằng ta hãy tìm một việc gì khác có ý nghĩa hơn để bù đắp, có phải là tốt hơn không ?
Người có tinh thần mạnh mẽ, thích cuộc sống đạo đức nhưng vô tình phạm phải sai lầm to tát nào đó thì rất dễ từ sự tự trách dẫn đến tự ti, làm cho con người thoái hóa về tinh thần, mất đi sự tự tin vào chính mình và rất dễ nảy sinh sự hoài nghi đối với tất cả những người xung quanh.
Giống như lời giảng của vị cao tăng :
“Vốn dĩ trong cuộc sống con người là chẳng có chuyện gì. Mọi ưu phiền đều do con người tự nghĩ ra, tự lấy phiền não trói buộc mình mà thôi”
Đương nhiên, làm người tốt thì được người quí mến nhưng cũng không nên “Tốt” đến mức quên mình, càng không nên hi vọng mình tốt đến không có khuyết điểm nào. Chúng ta chỉ cần sửa soạn tâm lý sửa sai một khi phạm lỗi thì chẳng bao lâu Ta sẽ trở thành một người có nhân cách đạo đức trong xã hội mà thôi.
>> Một người tốt kiện toàn nên làm những gì nên làm, nên nói những gì cần nói. Mọi việc chỉ yêu cầu sự hợp tình hợp lý là đủ rồi. Tuy nhiên, phạm sai lầm mà không rủ bỏ được sự tự trách hoặc không chịu hối hận thay đổi cũng là một sự ngược đãi đối với bản thân mình.
Cái dũng của kẻ vô mưu
Cuộc sống phong phú sẽ cho Ta nhiều cơ hội mạo hiểm. Nhưng tuyệt đối không được mạo hiểm với điểm tựa là sự "Liều lĩnh". Tuy rằng vẫn có một số người thành công nhưng đa số chỉ là dựa vào cơ hội chứ không phải là thực lực của bản thân.
Theo Ngạn Ngữ thì đó là : "Ăn cả ngã vào không" tức là "Liều lĩnh" chứ không phải là mạo hiểm, không đáng để cho chúng ta học hỏi, càng không nên bắt trước theo. Bởi đó là "Cái dũng của kẻ vô mưu" Bởi khi "Liều lĩnh" cũng giống như con thiêu thân, không suy xét kỹ càng, không tính toán trước khi hành động, cho nên chỉ cần một lần thất bại thì tất cả những thành công trước đó sẽ bị tiêu tan. Còn "mạo hiểm" thì mang tính cách thử thách nhiều hơn, có dự đoán trước những bất ngờ sẽ xảy ra. Nhờ vậy kẻ "Liều lĩnh" rất dễ thất bại trong khi người "mạo hiểm" thường dễ thành công hơn.
Nói đến "Cái dũng của kẻ vô mưu" thường hay rơi vào những người trẻ tuổi, bởi khi ấy sức khỏe của họ đang cường tráng, bồng bột về tinh thần, rất dễ dũng cảm vô lý, không "Kịp" suy xét được đúng sai, nhưng vấn đề lớn nhất cũng là không giới hạn được tâm lý của mình, không nhận thức được sự việc tốt hay xấu nên thấy việc "Bất Bình" là ra tay hành động ngay. Nhiều hành động hết sức dũng cảm nhưng chẳng mang lại lợi ích gì cả.
Thật ra, cá tính này không chỉ có ở những người trẻ tuổi, ngay cả những người trưởng thành đôi khi cũng có những suy nghĩ không chín chắn, còn thiếu nhiều kinh nghiệm nhưng lại lấy vị thế của người lớn để giải quyết vấn đề một cách "Dứt Khoát" hay "Mạnh Bạo", tự đưa mình vào chỗ dũng cảm vô mưu.
Dũng cảm có khi phải qua một quá trình rèn luyện lâu dài, thiếu ý thức về dũng cảm sẽ đâm ra hành động một cách mù quáng.
Trong thời Chiến Quốc : Ai cũng biết chuyện Yêu Ly xin chặt tay, hi sinh cả gia đình để thi hành "Khổ Nhục Kế" nhằm tiếp cận để giết chết công tử Khánh Kỵ. Yêu Ly chỉ vì chút tiếng tăm hảo huyền, tự hủy bản thân, tàn hại gia đình rồi dùng thủ đoạn lừa dối để giết người thì thật không thể gọi là anh hùng được.
Trong sách cổ có ghi chép lại đoạn Khổng Tử hỏi các đệ tử của mình :
"Thế nào là người Trí ? Thế nào là người nhân ?"
Nhan Hồi đáp :
"Người Trí là người tự biết mình, người nhân là người tự yêu mình”.
>> Rõ ràng Yêu Ly không biết tự biết mình, phải dùng tới hạ sách để mua chuộc lòng thương hại và sự tin tưởng của người, gian dối lấy cây Giáo từ sau lưng đâm xuyên qua người Khánh Kỵ thì cái Trí ấy không phải là người quân tử rồi. Yêu Ly lại không biết mình, không biết yêu những người thân của mình thì còn yêu Vua sao được ? Cái dũng của Yêu Ly không phải là vô mưu nhưng lại là cái dũng của kẻ gian xảo, nhắm vào một mục đích để "Mua danh muôn thuở", chẳng thể ca tụng như là một tấm gương dũng cảm. Nếu như ta lấy Yêu Ly ra dạy dỗ con cái thì thử hỏi bọn Chúng sẽ hình thành ra tính cách như thế nào ? Sẵn sàng chịu nhục để đánh người sau lưng hay sao ???
Tuy nhiên "Cái dũng của kẻ vô mưu" không được người có Trí tán thưởng nhưng không đến nỗi bị chê cười, bởi vì hiểu rõ đó chỉ là tính cách nông nổi, nhất thời thiếu suy nghĩ của con người mà thôi. Người có dũng khí nhưng lại vô mưu như tuổi trẻ thì trải qua thời gian vẫn có thể "Cải sửa" được. Vì những thất bại do vô mưu, bồng bột của trước đó lại chính là một kinh nghiệm để con người nhìn lại bản thân.
Còn như những kẻ tiểu nhân gian xảo. Dù thành công cũng chẳng ai khen ngợi bởi tính cách dũng cảm ấy chỉ là liều lĩnh, nhắm vào mục đích nào đó có lợi cho mình mà thôi. Hãy nhớ rằng : "Dũng cảm không bao giờ đi đôi với lợi ích", còn không sự dũng cảm đó chỉ mang tính là "Trao đổi" hay "Mua Bán" mà thôi. Ta có thể Thí dụ như một người dũng cảm nhảy xuống dòng nước chảy xiết để cứu lấy đứa bé mà không hề toan tính gì hết so với người cũng nhảy xuống giống như thế nhưng lại được cha mẹ của đứa bé hứa sẽ "Hậu Tạ" thì có còn được gọi là "Dũng cảm" hay là sự "Trao đổi" ?
Theo Ngạn Ngữ thì đó là : "Ăn cả ngã vào không" tức là "Liều lĩnh" chứ không phải là mạo hiểm, không đáng để cho chúng ta học hỏi, càng không nên bắt trước theo. Bởi đó là "Cái dũng của kẻ vô mưu" Bởi khi "Liều lĩnh" cũng giống như con thiêu thân, không suy xét kỹ càng, không tính toán trước khi hành động, cho nên chỉ cần một lần thất bại thì tất cả những thành công trước đó sẽ bị tiêu tan. Còn "mạo hiểm" thì mang tính cách thử thách nhiều hơn, có dự đoán trước những bất ngờ sẽ xảy ra. Nhờ vậy kẻ "Liều lĩnh" rất dễ thất bại trong khi người "mạo hiểm" thường dễ thành công hơn.
Nói đến "Cái dũng của kẻ vô mưu" thường hay rơi vào những người trẻ tuổi, bởi khi ấy sức khỏe của họ đang cường tráng, bồng bột về tinh thần, rất dễ dũng cảm vô lý, không "Kịp" suy xét được đúng sai, nhưng vấn đề lớn nhất cũng là không giới hạn được tâm lý của mình, không nhận thức được sự việc tốt hay xấu nên thấy việc "Bất Bình" là ra tay hành động ngay. Nhiều hành động hết sức dũng cảm nhưng chẳng mang lại lợi ích gì cả.
Thật ra, cá tính này không chỉ có ở những người trẻ tuổi, ngay cả những người trưởng thành đôi khi cũng có những suy nghĩ không chín chắn, còn thiếu nhiều kinh nghiệm nhưng lại lấy vị thế của người lớn để giải quyết vấn đề một cách "Dứt Khoát" hay "Mạnh Bạo", tự đưa mình vào chỗ dũng cảm vô mưu.
Dũng cảm có khi phải qua một quá trình rèn luyện lâu dài, thiếu ý thức về dũng cảm sẽ đâm ra hành động một cách mù quáng.
Trong thời Chiến Quốc : Ai cũng biết chuyện Yêu Ly xin chặt tay, hi sinh cả gia đình để thi hành "Khổ Nhục Kế" nhằm tiếp cận để giết chết công tử Khánh Kỵ. Yêu Ly chỉ vì chút tiếng tăm hảo huyền, tự hủy bản thân, tàn hại gia đình rồi dùng thủ đoạn lừa dối để giết người thì thật không thể gọi là anh hùng được.
Trong sách cổ có ghi chép lại đoạn Khổng Tử hỏi các đệ tử của mình :
"Thế nào là người Trí ? Thế nào là người nhân ?"
Nhan Hồi đáp :
"Người Trí là người tự biết mình, người nhân là người tự yêu mình”.
>> Rõ ràng Yêu Ly không biết tự biết mình, phải dùng tới hạ sách để mua chuộc lòng thương hại và sự tin tưởng của người, gian dối lấy cây Giáo từ sau lưng đâm xuyên qua người Khánh Kỵ thì cái Trí ấy không phải là người quân tử rồi. Yêu Ly lại không biết mình, không biết yêu những người thân của mình thì còn yêu Vua sao được ? Cái dũng của Yêu Ly không phải là vô mưu nhưng lại là cái dũng của kẻ gian xảo, nhắm vào một mục đích để "Mua danh muôn thuở", chẳng thể ca tụng như là một tấm gương dũng cảm. Nếu như ta lấy Yêu Ly ra dạy dỗ con cái thì thử hỏi bọn Chúng sẽ hình thành ra tính cách như thế nào ? Sẵn sàng chịu nhục để đánh người sau lưng hay sao ???
Tuy nhiên "Cái dũng của kẻ vô mưu" không được người có Trí tán thưởng nhưng không đến nỗi bị chê cười, bởi vì hiểu rõ đó chỉ là tính cách nông nổi, nhất thời thiếu suy nghĩ của con người mà thôi. Người có dũng khí nhưng lại vô mưu như tuổi trẻ thì trải qua thời gian vẫn có thể "Cải sửa" được. Vì những thất bại do vô mưu, bồng bột của trước đó lại chính là một kinh nghiệm để con người nhìn lại bản thân.
Còn như những kẻ tiểu nhân gian xảo. Dù thành công cũng chẳng ai khen ngợi bởi tính cách dũng cảm ấy chỉ là liều lĩnh, nhắm vào mục đích nào đó có lợi cho mình mà thôi. Hãy nhớ rằng : "Dũng cảm không bao giờ đi đôi với lợi ích", còn không sự dũng cảm đó chỉ mang tính là "Trao đổi" hay "Mua Bán" mà thôi. Ta có thể Thí dụ như một người dũng cảm nhảy xuống dòng nước chảy xiết để cứu lấy đứa bé mà không hề toan tính gì hết so với người cũng nhảy xuống giống như thế nhưng lại được cha mẹ của đứa bé hứa sẽ "Hậu Tạ" thì có còn được gọi là "Dũng cảm" hay là sự "Trao đổi" ?
Lạnh lùng khó dẫn đến thành công
Người có cá tính lạnh lùng hầu như xuất phát từ nguyên nhân hoài nghi cuộc sống. Họ cho rằng thế giới này việc gì cũng là lừa lọc, dối trá nên không bao giờ chấp nhận ngay mà chờ có thời gian để suy xét, bảo vệ bản thân. Điều này sẽ rất khó có thể hòa đồng với mọi người, rất dễ trở thành người cô độc, mất hết bạn bè và những người thân cận.
"Lạnh lùng" không những đánh mất cái Tôi mà còn coi thường sự tồn tại của người khác. Là “Khắc Tinh” quan trọng trong Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm. Dù là người tài giỏi, có danh vọng địa vị đến đâu. Dẫu Ta có kính phục đi chăng thì cũng không dám “Gần gũi” lâu dài. Có thể nói, "Lạnh lùng" chẳng những không làm nên đại sự mà còn tạo cho người ta có cảm giác “Xa lạ” , “Lạnh lẽo”. Chính cái vui cười, có hàm ý sâu sắc mới mang lại tác động mạnh mẽ vào tinh thần cho người khác.
Nổi tiếng nhất là Hán Vũ Đế vào thời Hán Triều, là người vừa có tính cách quyết liệt lại vừa anh minh trong việc cai trị, Hán Vũ Đế chưa hề nghĩ đến Hòa đồng mà chỉ toan tính tiêu diệt. Chính vì vậy mà các quần Thần ít ai dám đứng ra thẳng thắn trình tấu, nếu như có thì cũng sẽ “Bất hạnh” như Tư Mã Thiên mà thôi. Thế mà vẫn có một người ung dung dám trêu trọc nhà Vua. Không chỉ một lần mà là nhiều lần. Sử dụng phương cách hài hước, âm thầm tặng cho nhà Vua nhiều bài học thấm thía. Người đó chính là Đông Phương Sóc. Ông đã vận dụng trí tuệ của mình thành những lời khuyên nhẹ nhàng nhưng hàm ý đầy sâu sắc khiến Hán Vũ Đế không thể không phục.
Chiêu Bình Quân tính khí hung hăng tàn nhẫn, ỷ lại vào việc mình đã được Mẹ là công chúa Long Lự ( Em Vua) trước khi chết đã dùng vô số châu báu để chuộc tội cho con mình nếu như sau này có phạm lỗi. Vì vậy mà Chiêu Bình Quân càng thêm hung hãn hơn, gây ra rất nhiều tội ác trong chốn kinh thành. Rốt cuộc bị Đình Úy bắt đưa lên Vua xét xử. Hán Vũ Đế vốn thương mến công chúa Long Lự và lại có nhận lời che chở Chiêu Bình Quân nên rất lưỡng lự. Bởi luật pháp nghiêm minh, các quan thần vốn lại rất oán hận Chiêu Bình Quân nên cùng nhau dâng sớ mà xử tội. Tuy Hán Vũ Đế rất đau lòng nhưng đành phải hạ chiếu xử tử Chiêu Bình Quân theo luật pháp.
Đang lúc rưng rưng nước mắt thương cảm thì Đông Phương Sóc bước lên, vui vẻ cầm rượu chúc mừng nhà Vua và cho rằng việc hành hình này là đại phúc của Thiên Hạ. Rất tức giận, Vua quay mình đi thẳng vào Cung. Chiều hôm đó, Vua triệu Đông Phương Sóc vào Cung hỏi:
“Cổ nhân thường dạy khi nói năng bất cứ việc gì đều phải xem xét hoàn cảnh thì mới không người ta ganh ghét. Hôm nay khanh mời rượu ta có đúng lúc chăng?”
Đông Phương Sóc ung dung đáp :
“Thần nghe nói con người vui quá thì hại Dương, buồn quá thì tổn âm mà rượu có thể làm tiêu bớt những sầu não. Vì thế thần đứng ra mừng rượu là để tuyên dương sự công chính của bệ hạ, không vì người thân mà bỏ mất luật pháp. Đồng thời lấy rượu tiết chế bớt sầu não của bệ hạ, không để ngọc thể hư nhược. Đó chính là mừng rượu đúng lúc vậy. "
Hán Vũ Đế nghe xong không những không bắt tội mà còn trọng thưởng nữa.
Trong những trường hợp này, lạnh lùng chẳng thể mang lại tác dụng như Đông Phương Sóc đã làm. Thậm chí còn có thể suy đoán biết đâu Hán Vũ Đế còn xuống chiếu ban bố nhiều quyết định tàn khốc hơn để “Trút bỏ” nỗi tức giận của mình nữa.
"Lạnh lùng" không những đánh mất cái Tôi mà còn coi thường sự tồn tại của người khác. Là “Khắc Tinh” quan trọng trong Nghệ Thuật Đắc Nhân Tâm. Dù là người tài giỏi, có danh vọng địa vị đến đâu. Dẫu Ta có kính phục đi chăng thì cũng không dám “Gần gũi” lâu dài. Có thể nói, "Lạnh lùng" chẳng những không làm nên đại sự mà còn tạo cho người ta có cảm giác “Xa lạ” , “Lạnh lẽo”. Chính cái vui cười, có hàm ý sâu sắc mới mang lại tác động mạnh mẽ vào tinh thần cho người khác.
Nổi tiếng nhất là Hán Vũ Đế vào thời Hán Triều, là người vừa có tính cách quyết liệt lại vừa anh minh trong việc cai trị, Hán Vũ Đế chưa hề nghĩ đến Hòa đồng mà chỉ toan tính tiêu diệt. Chính vì vậy mà các quần Thần ít ai dám đứng ra thẳng thắn trình tấu, nếu như có thì cũng sẽ “Bất hạnh” như Tư Mã Thiên mà thôi. Thế mà vẫn có một người ung dung dám trêu trọc nhà Vua. Không chỉ một lần mà là nhiều lần. Sử dụng phương cách hài hước, âm thầm tặng cho nhà Vua nhiều bài học thấm thía. Người đó chính là Đông Phương Sóc. Ông đã vận dụng trí tuệ của mình thành những lời khuyên nhẹ nhàng nhưng hàm ý đầy sâu sắc khiến Hán Vũ Đế không thể không phục.
Chiêu Bình Quân tính khí hung hăng tàn nhẫn, ỷ lại vào việc mình đã được Mẹ là công chúa Long Lự ( Em Vua) trước khi chết đã dùng vô số châu báu để chuộc tội cho con mình nếu như sau này có phạm lỗi. Vì vậy mà Chiêu Bình Quân càng thêm hung hãn hơn, gây ra rất nhiều tội ác trong chốn kinh thành. Rốt cuộc bị Đình Úy bắt đưa lên Vua xét xử. Hán Vũ Đế vốn thương mến công chúa Long Lự và lại có nhận lời che chở Chiêu Bình Quân nên rất lưỡng lự. Bởi luật pháp nghiêm minh, các quan thần vốn lại rất oán hận Chiêu Bình Quân nên cùng nhau dâng sớ mà xử tội. Tuy Hán Vũ Đế rất đau lòng nhưng đành phải hạ chiếu xử tử Chiêu Bình Quân theo luật pháp.
Đang lúc rưng rưng nước mắt thương cảm thì Đông Phương Sóc bước lên, vui vẻ cầm rượu chúc mừng nhà Vua và cho rằng việc hành hình này là đại phúc của Thiên Hạ. Rất tức giận, Vua quay mình đi thẳng vào Cung. Chiều hôm đó, Vua triệu Đông Phương Sóc vào Cung hỏi:
“Cổ nhân thường dạy khi nói năng bất cứ việc gì đều phải xem xét hoàn cảnh thì mới không người ta ganh ghét. Hôm nay khanh mời rượu ta có đúng lúc chăng?”
Đông Phương Sóc ung dung đáp :
“Thần nghe nói con người vui quá thì hại Dương, buồn quá thì tổn âm mà rượu có thể làm tiêu bớt những sầu não. Vì thế thần đứng ra mừng rượu là để tuyên dương sự công chính của bệ hạ, không vì người thân mà bỏ mất luật pháp. Đồng thời lấy rượu tiết chế bớt sầu não của bệ hạ, không để ngọc thể hư nhược. Đó chính là mừng rượu đúng lúc vậy. "
Hán Vũ Đế nghe xong không những không bắt tội mà còn trọng thưởng nữa.
Trong những trường hợp này, lạnh lùng chẳng thể mang lại tác dụng như Đông Phương Sóc đã làm. Thậm chí còn có thể suy đoán biết đâu Hán Vũ Đế còn xuống chiếu ban bố nhiều quyết định tàn khốc hơn để “Trút bỏ” nỗi tức giận của mình nữa.
Bỏ ra một tấm da dê
Trên thế gian này không có chuyện gì là tuyệt đối cả. Vì vậy trong những hoàn cảnh đặc biệt, công khai thừa nhận chỗ yếu kém của bản thân, cố ý để lộ ra điểm yếu về một số mặt lại là một cách xử thế có lợi.
Những người thành công trong sự nghiệp, may mắn trong cuộc sống thường bị người khác đố kị là do những nguyên nhân khách quan mang lại. Việc sử dụng phương cách để lộ chỗ yếu một cách thích hợp có thể làm giảm bớt căng thẳng đến mức thấp nhất. Có thể làm cho những người có hoàn cảnh không bằng mình giữ được trạng thái cân bằng.
Chúng ta thử nghĩ mà xem : Nếu có một người hàng xóm là một ngôi sao nổi tiếng thì chúng ta có giám đến gần mà thân không ? Nhưng nếu người ấy để lộ cho Ta biết là họ cũng “Thích” la cà uống rượu, tâm sự bạn bè nhưng vì địa vị không cho phép thì có lẽ Ta đỡ “Mặc cảm” hay đố kỵ hơn. Bởi vì Ta nghĩ họ cũng như mình vậy. Chỉ vì công việc, địa vị mà bắt buộc họ mới phải giữ mình mà thôi.
Tuy nhiên để việc bộc lộ ra điểm yếu có hiệu quả tích cực, Ta cần phải biết lựa chọn nội dung : Người thành công nên nói nhiều về những thất bại của mình để người khác có cảm giác là “Thành công không dễ dàng gì”. Đối với những người có điều kiện kinh tế không bằng mình có thể nói về nổi khổ của bản thân như nợ nần, con cái học hành không tốt cũng như những khó khăn trong công việc, để đối phương thấy được rằng “Mình cũng vất vả mới có được” ; Thí dụ, là một chuyên gia đầu ngành quản lý chục nhân viên, vấn đề kỹ thuật tất nhiên là phải thông thạo. Nhưng Ta có thể “Tiết lộ” một chút, thừa nhận rằng mình vẫn còn nhiều khuyết điểm trong cuộc sống. Chẳng hạn như chưa hề biết đến nấu ăn, trong cuộc sống thường nhật thường bị người khác chê cười như thế nào về vấn đề nhỏ nhặt, miễn sao không phương hại đến ngành nghề hoạt động. Những “Tiết lộ” này không xấu hổ chút nào vì đó là chuyện bình thường của bất cứ ai nhưng lại có tác dụng khiến cấp dưới “Cảm thông” và càng nể phục hơn vì đã dám nói ra những khuyết điểm của mình.
Đối với những người thành công là do khách quan hoặc do thời cơ đến ngẫu nhiên thì càng nên nói thật ra. Thừa nhận mình chỉ là “Mèo Mù Vớ Cá Rán” mà thôi. Có thể người khác sẽ cười thầm nhưng một khi chúng ta chứng minh được sự nghiệp về sau càng phát triển thì họ sẽ chuyển sang tâm lý “Kính Phục”. Còn hơn là phải che giấu khuyết điểm, nếu như việc lộ ra thì càng bị chê cười nhiều hơn thôi.
Tỏ ra yếu đuối là một phương thức rất trí tuệ nên hầu như người có đầu óc khi đã đạt được thành công đều rất quan tâm thực hiện. Nó có thể làm cho những người xung quanh Ta đạt được tâm lý an ủi, cân bằng đố kị, làm giảm hoặc làm mất đi những nhân tố tiêu cực ngăn cản trên bước đường thành công của Ta.
Về mặt triết lý thì nên “Cho người một con đường để đi”. Về mặt tâm lý thì nên “Hãy cho người khác chút sĩ diện bề ngoài” và giữ lại cho mình sự thực dụng. Nếu như Bạn đã có gia tài trăm vạn, vải lụa đầy nhà, tại sao không bỏ ra một tấm da dê để giữ gìn tài sản lớn lao ấy. Đối với bạn, một tấm da dê chẵng là gì nhưng đối với những người khác thì đó thật có ý nghĩa và quan trọng.
Những người thành công trong sự nghiệp, may mắn trong cuộc sống thường bị người khác đố kị là do những nguyên nhân khách quan mang lại. Việc sử dụng phương cách để lộ chỗ yếu một cách thích hợp có thể làm giảm bớt căng thẳng đến mức thấp nhất. Có thể làm cho những người có hoàn cảnh không bằng mình giữ được trạng thái cân bằng.
Chúng ta thử nghĩ mà xem : Nếu có một người hàng xóm là một ngôi sao nổi tiếng thì chúng ta có giám đến gần mà thân không ? Nhưng nếu người ấy để lộ cho Ta biết là họ cũng “Thích” la cà uống rượu, tâm sự bạn bè nhưng vì địa vị không cho phép thì có lẽ Ta đỡ “Mặc cảm” hay đố kỵ hơn. Bởi vì Ta nghĩ họ cũng như mình vậy. Chỉ vì công việc, địa vị mà bắt buộc họ mới phải giữ mình mà thôi.
Tuy nhiên để việc bộc lộ ra điểm yếu có hiệu quả tích cực, Ta cần phải biết lựa chọn nội dung : Người thành công nên nói nhiều về những thất bại của mình để người khác có cảm giác là “Thành công không dễ dàng gì”. Đối với những người có điều kiện kinh tế không bằng mình có thể nói về nổi khổ của bản thân như nợ nần, con cái học hành không tốt cũng như những khó khăn trong công việc, để đối phương thấy được rằng “Mình cũng vất vả mới có được” ; Thí dụ, là một chuyên gia đầu ngành quản lý chục nhân viên, vấn đề kỹ thuật tất nhiên là phải thông thạo. Nhưng Ta có thể “Tiết lộ” một chút, thừa nhận rằng mình vẫn còn nhiều khuyết điểm trong cuộc sống. Chẳng hạn như chưa hề biết đến nấu ăn, trong cuộc sống thường nhật thường bị người khác chê cười như thế nào về vấn đề nhỏ nhặt, miễn sao không phương hại đến ngành nghề hoạt động. Những “Tiết lộ” này không xấu hổ chút nào vì đó là chuyện bình thường của bất cứ ai nhưng lại có tác dụng khiến cấp dưới “Cảm thông” và càng nể phục hơn vì đã dám nói ra những khuyết điểm của mình.
Đối với những người thành công là do khách quan hoặc do thời cơ đến ngẫu nhiên thì càng nên nói thật ra. Thừa nhận mình chỉ là “Mèo Mù Vớ Cá Rán” mà thôi. Có thể người khác sẽ cười thầm nhưng một khi chúng ta chứng minh được sự nghiệp về sau càng phát triển thì họ sẽ chuyển sang tâm lý “Kính Phục”. Còn hơn là phải che giấu khuyết điểm, nếu như việc lộ ra thì càng bị chê cười nhiều hơn thôi.
Tỏ ra yếu đuối là một phương thức rất trí tuệ nên hầu như người có đầu óc khi đã đạt được thành công đều rất quan tâm thực hiện. Nó có thể làm cho những người xung quanh Ta đạt được tâm lý an ủi, cân bằng đố kị, làm giảm hoặc làm mất đi những nhân tố tiêu cực ngăn cản trên bước đường thành công của Ta.
Về mặt triết lý thì nên “Cho người một con đường để đi”. Về mặt tâm lý thì nên “Hãy cho người khác chút sĩ diện bề ngoài” và giữ lại cho mình sự thực dụng. Nếu như Bạn đã có gia tài trăm vạn, vải lụa đầy nhà, tại sao không bỏ ra một tấm da dê để giữ gìn tài sản lớn lao ấy. Đối với bạn, một tấm da dê chẵng là gì nhưng đối với những người khác thì đó thật có ý nghĩa và quan trọng.
“Từ chối” hay nói “Không”
Trong giao tiếp giữa người và người có nhiều vấn đề rất phức tạp. Có những tình huống không biết phải ứng phó như thế nào luôn xuất hiện ở xung quanh ta. Nếu như chúng ta không có sự chuẩn bị sẵn, không có lòng quyết tâm thì chắc chắn không thể ứng phó với những tình huống bất ngờ một cách trọn vẹn !!!
Khó xử nhất là những tình huống khó lòng nói “Không” một cách dứt khoác vì nó sẽ dẫn đến “Mất lòng”. Nhưng nếu phải chọn lựa giữa “Từ Chối” và “Miễn cưỡng” chấp nhận thì ta nên nói “Không” là tốt nhất. Miễn cưỡng thường đưa đến sự hối hận về sau cho cả đôi bên. Vậy chẳng thà nên nói không ngay từ đầu. Như thế sẽ làm cho người yêu cầu có bực tức nhưng về lâu họ sẽ hiểu được và nhận ra ý tốt của mình “Thà mất lòng trước mà được lòng sau” biết đâu tình cảm sẽ càng thêm gắn bó bởi tính cách chân thật, thẳng thắn của ta ???
Tình bạn hữu nếu như phải kiên quyết từ chối thì dĩ nhiên sẽ không thể tránh khỏi những sứt mẻ tình cảm nhưng biết mình “Lực bất tòng tâm” mà không thẳng thắn nói ra, cứ hẹn lần hẹn mãi mới kết thúc thì càng tệ hại hơn mà thôi, thậm chí còn mang thù chuốc oán.
Kiên quyết nói “Không” chắc chắn sẽ có những bất mãn nhưng không thực hiện được lời hứa của mình thì chỉ làm cho mối quan hệ càng thêm căng thẳng mà thôi. Như vậy chẳng phải là “Lợi bất cập hại” hay sao ?
Chỉ cần một chút dũng cảm và trí tuệ thì Ta sẽ vượt qua một cách nhẹ nhàng. Vết thương tuy có đau nhưng rất mau lành, còn hơn để nó âm ỉ sưng nhức nhiều ngày.
Trong lịch sử Trung Quốc có nhiều câu chuyện khuyên răn về vấn đề “Khi cần nói không đúng lúc” nhưng ít người “Nhập Tâm” ý nghĩa của nó. Minh chứng là câu chuyện “Viên Ngọc quý” ở nước Ngu thời Tam Quốcv sau :
Ngu Thúc có viên ngọc quý làm gia bảo. Vua là Ngu Công nghe lời nịnh thần sai người đến xin. Ngu Thúc tuy rằng tiếc rẻ nhưng nghĩ bụng “Kẻ thường dân vốn không có tội gì, chỉ vì có ngọc bích mà thành trọng tội” thì không đáng, nên sai người mang ngọc dâng tặng cho Vua. Chẳng ngờ chưa thỏa mãn, Ngu Công lại nghe nói Ngu Thúc có thanh bảo kiếm truyền đời liền sai người lấy nốt. Ngu Thúc tức giận nói : “Ngu Công lòng tham vô đáy” như thế tất có ngày hắn sẽ hại đến thân ta. Nói xong, Ngu Thúc tập họp hết quân sĩ tiến đánh Ngu Công. Vốn không được lòng người, không ai tận lực nên rốt cuộc Ngu Công thua trận, bỏ chạy ra đất Cung Trì.
Ngu Thúc đúng là tài trí, lý luận đúng đắn nhưng cách suy nghĩ vẫn còn thiếu sâu sắc. Nếu ngay từ đầu, Ngu Thúc biết khéo léo hơn, từ chối với lý lẽ Ngọc là vật gia bảo rồi dùng cái quý giá khác bù lại thì có lẽ tình thế đã khác. Tuy Ngu Công sẽ tức giận nhưng sẽ được giải trừ, còn hơn để lòng tham tăng dần. Ngu Thúc chỉ vì không biết nói “Không” đúng lúc cần thiết nên rốt cuộc nước Ngu phải lâm vào đại loạn, cốt nhục tương tàn.
>> Cần phải nhận định rõ ràng : “Từ chối” hay nói “Không” . Điều quan trọng là phải nói rõ nguyên nhân không thể đáp ứng để tránh bị hiểu lầm và thái độ từ chối quyết đoán của ta nhất thiết phải trình tự, hợp tình hợp lý.
Khó xử nhất là những tình huống khó lòng nói “Không” một cách dứt khoác vì nó sẽ dẫn đến “Mất lòng”. Nhưng nếu phải chọn lựa giữa “Từ Chối” và “Miễn cưỡng” chấp nhận thì ta nên nói “Không” là tốt nhất. Miễn cưỡng thường đưa đến sự hối hận về sau cho cả đôi bên. Vậy chẳng thà nên nói không ngay từ đầu. Như thế sẽ làm cho người yêu cầu có bực tức nhưng về lâu họ sẽ hiểu được và nhận ra ý tốt của mình “Thà mất lòng trước mà được lòng sau” biết đâu tình cảm sẽ càng thêm gắn bó bởi tính cách chân thật, thẳng thắn của ta ???
Tình bạn hữu nếu như phải kiên quyết từ chối thì dĩ nhiên sẽ không thể tránh khỏi những sứt mẻ tình cảm nhưng biết mình “Lực bất tòng tâm” mà không thẳng thắn nói ra, cứ hẹn lần hẹn mãi mới kết thúc thì càng tệ hại hơn mà thôi, thậm chí còn mang thù chuốc oán.
Kiên quyết nói “Không” chắc chắn sẽ có những bất mãn nhưng không thực hiện được lời hứa của mình thì chỉ làm cho mối quan hệ càng thêm căng thẳng mà thôi. Như vậy chẳng phải là “Lợi bất cập hại” hay sao ?
Chỉ cần một chút dũng cảm và trí tuệ thì Ta sẽ vượt qua một cách nhẹ nhàng. Vết thương tuy có đau nhưng rất mau lành, còn hơn để nó âm ỉ sưng nhức nhiều ngày.
Trong lịch sử Trung Quốc có nhiều câu chuyện khuyên răn về vấn đề “Khi cần nói không đúng lúc” nhưng ít người “Nhập Tâm” ý nghĩa của nó. Minh chứng là câu chuyện “Viên Ngọc quý” ở nước Ngu thời Tam Quốcv sau :
Ngu Thúc có viên ngọc quý làm gia bảo. Vua là Ngu Công nghe lời nịnh thần sai người đến xin. Ngu Thúc tuy rằng tiếc rẻ nhưng nghĩ bụng “Kẻ thường dân vốn không có tội gì, chỉ vì có ngọc bích mà thành trọng tội” thì không đáng, nên sai người mang ngọc dâng tặng cho Vua. Chẳng ngờ chưa thỏa mãn, Ngu Công lại nghe nói Ngu Thúc có thanh bảo kiếm truyền đời liền sai người lấy nốt. Ngu Thúc tức giận nói : “Ngu Công lòng tham vô đáy” như thế tất có ngày hắn sẽ hại đến thân ta. Nói xong, Ngu Thúc tập họp hết quân sĩ tiến đánh Ngu Công. Vốn không được lòng người, không ai tận lực nên rốt cuộc Ngu Công thua trận, bỏ chạy ra đất Cung Trì.
Ngu Thúc đúng là tài trí, lý luận đúng đắn nhưng cách suy nghĩ vẫn còn thiếu sâu sắc. Nếu ngay từ đầu, Ngu Thúc biết khéo léo hơn, từ chối với lý lẽ Ngọc là vật gia bảo rồi dùng cái quý giá khác bù lại thì có lẽ tình thế đã khác. Tuy Ngu Công sẽ tức giận nhưng sẽ được giải trừ, còn hơn để lòng tham tăng dần. Ngu Thúc chỉ vì không biết nói “Không” đúng lúc cần thiết nên rốt cuộc nước Ngu phải lâm vào đại loạn, cốt nhục tương tàn.
>> Cần phải nhận định rõ ràng : “Từ chối” hay nói “Không” . Điều quan trọng là phải nói rõ nguyên nhân không thể đáp ứng để tránh bị hiểu lầm và thái độ từ chối quyết đoán của ta nhất thiết phải trình tự, hợp tình hợp lý.
Do dự là trở ngại lớn nhất
Động vật không hề do dự hay ngại ngùng trong tiếp xúc với đồng loại, chỉ khi nào cảm thấy bị nguy hiểm thì mới có chút phân vân. Bởi vì tất cả hành động đều xuất phát từ bản năng.
Con người khác với động vật là vì có tinh thần và trí tuệ, có suy xét khi hành động. Vì vậy mới tạo nên ngại ngùng và do dự...
Ngoài tố chất cá tính của con người ra thì còn một nguyên nhân quan trọng khác nữa là sự trói buộc của lễ giáo và sự hấp thụ của nền văn hóa khác nhau đâm ra do dự khiến công việc không thể phát triển tốt đẹp.
Thực tế, Do Dự là do tự bản thân chúng ta nghĩ ra, tùy theo cách nhận định sự việc của mỗi người. Trong thế giới ngày nay, ai mà chẳng có khát vọng thăng tiến, tìm cơ hội để tỏ ra thực lực của mình. Vì thế chỉ cần ta chậm một bước là sẽ mất đi cơ hội, “Ngại Ngùng-Do Dự” lúc này trở thành “Vật Cản” rất quan trọng.
Ngoài chuyện tình cảm, cần phải có thời gian suy nghĩ thì về vật chất “Ngại Ngùng-Do Dự” chính là sự trở ngại ; chẳng hạn như..
1. Liên quan đến quyền lợi :
Quyền lợi tuy không phải là mục đích cuối cùng của cuộc đời nhưng đó lại là yếu tố cần thiết để ta sinh tồn và thực thi hoài bão. Nếu ta đã hoạch định thu nhập bằng chính tài năng, công sức của mình, hợp với nhân luân thì cứ thẳng thắn, mạnh dạn bảo vệ nó.
2. Khi muốn từ chối một chuyện gì đó :
Thí dụ bạn bè nhờ Ta đứng ra vay mượn tiền do quá khó khăn. Ta động lòng trắc ẩn, đứng ra bảo đảm vay mượn ngân hàng mà không nghĩ đến kết quả ra sao !! Trường hợp này nếu Ta ngại ngùng - do dự để có thời gian suy nghĩ chính chắn thì hay biết bao. Hăng hái giúp người không đúng lúc chính là hại mình vậy.
3. Khi có việc cần yêu cầu :
Thí dụ một người điều hành một công ty mà ngại ngùng - do dự sai phái, quyết định trong công việc tức là không những đánh mất đi tính cách của một người lãnh đạo mà còn làm cho cấp dưới khinh nhờn nữa.
>> Vì vậy ta cần phải rèn luyện ý chi vững vàng, kiến thức đầy đủ, có quyết tâm thì “Hiệu Lệnh” mới đúng đắn. Tuy nhiên cũng có nhiều người một khi đạt đến mức độ quyền lực nào đó thường bất chấp ý kiến của người khác, nhất định phải thi hành kế hoạch dù biết rằng có nhiều khuyết điểm đi nữa. Đây cũng chính là mặt biến tướng của “Ngại ngùng và do dự”.
Con người khác với động vật là vì có tinh thần và trí tuệ, có suy xét khi hành động. Vì vậy mới tạo nên ngại ngùng và do dự...
Ngoài tố chất cá tính của con người ra thì còn một nguyên nhân quan trọng khác nữa là sự trói buộc của lễ giáo và sự hấp thụ của nền văn hóa khác nhau đâm ra do dự khiến công việc không thể phát triển tốt đẹp.
Thực tế, Do Dự là do tự bản thân chúng ta nghĩ ra, tùy theo cách nhận định sự việc của mỗi người. Trong thế giới ngày nay, ai mà chẳng có khát vọng thăng tiến, tìm cơ hội để tỏ ra thực lực của mình. Vì thế chỉ cần ta chậm một bước là sẽ mất đi cơ hội, “Ngại Ngùng-Do Dự” lúc này trở thành “Vật Cản” rất quan trọng.
Ngoài chuyện tình cảm, cần phải có thời gian suy nghĩ thì về vật chất “Ngại Ngùng-Do Dự” chính là sự trở ngại ; chẳng hạn như..
1. Liên quan đến quyền lợi :
Quyền lợi tuy không phải là mục đích cuối cùng của cuộc đời nhưng đó lại là yếu tố cần thiết để ta sinh tồn và thực thi hoài bão. Nếu ta đã hoạch định thu nhập bằng chính tài năng, công sức của mình, hợp với nhân luân thì cứ thẳng thắn, mạnh dạn bảo vệ nó.
2. Khi muốn từ chối một chuyện gì đó :
Thí dụ bạn bè nhờ Ta đứng ra vay mượn tiền do quá khó khăn. Ta động lòng trắc ẩn, đứng ra bảo đảm vay mượn ngân hàng mà không nghĩ đến kết quả ra sao !! Trường hợp này nếu Ta ngại ngùng - do dự để có thời gian suy nghĩ chính chắn thì hay biết bao. Hăng hái giúp người không đúng lúc chính là hại mình vậy.
3. Khi có việc cần yêu cầu :
Thí dụ một người điều hành một công ty mà ngại ngùng - do dự sai phái, quyết định trong công việc tức là không những đánh mất đi tính cách của một người lãnh đạo mà còn làm cho cấp dưới khinh nhờn nữa.
>> Vì vậy ta cần phải rèn luyện ý chi vững vàng, kiến thức đầy đủ, có quyết tâm thì “Hiệu Lệnh” mới đúng đắn. Tuy nhiên cũng có nhiều người một khi đạt đến mức độ quyền lực nào đó thường bất chấp ý kiến của người khác, nhất định phải thi hành kế hoạch dù biết rằng có nhiều khuyết điểm đi nữa. Đây cũng chính là mặt biến tướng của “Ngại ngùng và do dự”.
Mới gặp mà như đã quen từ lâu
Câu nói này rất ít khi thật lòng trừ trường hợp “Sét Đánh” của đôi trai tài gái sắc, thuộc về vấn đề tình yêu thì còn nhiều bí ẩn vì do thôi thúc của “Dục tình” hay “Duyên Nợ” ??? Thực ra hiện tượng “Mới gặp mà như đã quen từ lâu” có lúc cũng xảy ra nhưng rất khó giải thích bằng khoa học.
Tuy nhiên, đa số trường hợp thì câu nói này chỉ mang tính chất xã giao mà người dám nói ngay từ lần đầu tiên ắt hẳn ít nhiều cũng mang chút giả dối hoặc có ý đồ nào đó.
Cho nên ta cần nhìn nhận câu nói này một cách tỉnh táo, tìm ra ý nghĩa thực của nó ; đơn thuần đó chỉ là một câu nói khách sáo hay là một “Viên thuốc độc bọc đường”. Vì vậy, khi ta và người khác gặp mặt lần đầu mà họ nhiệt tình nắm chặt lấy tay và hớn hở nói : “Tôi mới gặp anh mà như đã quen từ lâu” thì ta cần phải:
1. Xét bản thân có cảm thấy vui mừng hay xúc động trước câu nói đó không ? Nếu có, thì hãy nhanh chóng giảm bớt những cảm xúc này để tránh mắc bẫy và bị coi là “Bạ ai cũng tay bắt mặt mừng”.
2. Nếu đối phương có hành động tiếp theo sau câu nói thì nên duy trì một khoảng cách thiện ý để kiểm nghiệm lại và tránh bị tổn thương.
3. Nếu cả hai đều cảm thấy quen biết nhau từ lâu thì vẫn phải xét lại xúc cảm của mình, có thể cả hai đều quá “Nhạy Cảm” mà nhanh chóng tiết lộ cho nhau nhiều bí mật thì một khi tình cảm tan vỡ, đó sẽ là một nguy hại khó lường. Cổ nhân nói : “Thương nhiều ghét nhiều”. Trong vấn đề tình yêu thì xúc cảm càng ghê gớm hơn nữa. Khi yêu thì thắm thiết, còn lúc tan vỡ thì từ “Yêu” đột ngột biến thành “Thù” trong nháy mắt.
Đương nhiên, nếu cả hai bên đều tỉnh táo mà nhận ra đó là sự mong mỏi của mỗi người. mọi câu nói đều phù hợp thì không cần phải bàn cãi thêm. Tốt nhất cũng nên giữ một khoảng cách nhất định và để cho thời gian xác định chính chắn.
Điều quan trọng nhất là ta cần đề phòng những người có dụng ý khác với những câu nói tâng bốc nịnh bợ, cười cợt rất thân thiện, khiến ta rối tung lên và khó cự tuyệt. Tóm lại ta cần một chút đề cao cảnh giác, bởi rất ít trường hợp thật lòng.
Trong lịch sử, có những bậc đế vương khi nghe tin hiền sĩ đến yết kiến, đang lúc gội đầu cũng bỏ ngang, để tóc ướt mà chạy ra, tươi vui đón chào hay đến nỗi quên cả xỏ chân vào dép. Tất cả những tình huống này đều biểu lộ một sự trân trọng và thắm thiết. Bạn không nên bắt chước tính cách này đối với người xa lạ, bởi vì hoàn cảnh của chúng ta khác hẳn. Chẳng những không có tác dụng gì mà còn làm cho những người khác có cảm giác ta đang “Vồ vập” con mồi một cách quá đáng.
Tuy nhiên, đa số trường hợp thì câu nói này chỉ mang tính chất xã giao mà người dám nói ngay từ lần đầu tiên ắt hẳn ít nhiều cũng mang chút giả dối hoặc có ý đồ nào đó.
Cho nên ta cần nhìn nhận câu nói này một cách tỉnh táo, tìm ra ý nghĩa thực của nó ; đơn thuần đó chỉ là một câu nói khách sáo hay là một “Viên thuốc độc bọc đường”. Vì vậy, khi ta và người khác gặp mặt lần đầu mà họ nhiệt tình nắm chặt lấy tay và hớn hở nói : “Tôi mới gặp anh mà như đã quen từ lâu” thì ta cần phải:
1. Xét bản thân có cảm thấy vui mừng hay xúc động trước câu nói đó không ? Nếu có, thì hãy nhanh chóng giảm bớt những cảm xúc này để tránh mắc bẫy và bị coi là “Bạ ai cũng tay bắt mặt mừng”.
2. Nếu đối phương có hành động tiếp theo sau câu nói thì nên duy trì một khoảng cách thiện ý để kiểm nghiệm lại và tránh bị tổn thương.
3. Nếu cả hai đều cảm thấy quen biết nhau từ lâu thì vẫn phải xét lại xúc cảm của mình, có thể cả hai đều quá “Nhạy Cảm” mà nhanh chóng tiết lộ cho nhau nhiều bí mật thì một khi tình cảm tan vỡ, đó sẽ là một nguy hại khó lường. Cổ nhân nói : “Thương nhiều ghét nhiều”. Trong vấn đề tình yêu thì xúc cảm càng ghê gớm hơn nữa. Khi yêu thì thắm thiết, còn lúc tan vỡ thì từ “Yêu” đột ngột biến thành “Thù” trong nháy mắt.
Đương nhiên, nếu cả hai bên đều tỉnh táo mà nhận ra đó là sự mong mỏi của mỗi người. mọi câu nói đều phù hợp thì không cần phải bàn cãi thêm. Tốt nhất cũng nên giữ một khoảng cách nhất định và để cho thời gian xác định chính chắn.
Điều quan trọng nhất là ta cần đề phòng những người có dụng ý khác với những câu nói tâng bốc nịnh bợ, cười cợt rất thân thiện, khiến ta rối tung lên và khó cự tuyệt. Tóm lại ta cần một chút đề cao cảnh giác, bởi rất ít trường hợp thật lòng.
Trong lịch sử, có những bậc đế vương khi nghe tin hiền sĩ đến yết kiến, đang lúc gội đầu cũng bỏ ngang, để tóc ướt mà chạy ra, tươi vui đón chào hay đến nỗi quên cả xỏ chân vào dép. Tất cả những tình huống này đều biểu lộ một sự trân trọng và thắm thiết. Bạn không nên bắt chước tính cách này đối với người xa lạ, bởi vì hoàn cảnh của chúng ta khác hẳn. Chẳng những không có tác dụng gì mà còn làm cho những người khác có cảm giác ta đang “Vồ vập” con mồi một cách quá đáng.
Cương nhu là trí tuệ cao nhất của loài người
“Cương” quá thì dễ gãy, “Nhu” quá thì làm người ta khinh nhờn. Chỉ có cương nhu kết hợp nhuần nhuyễn mới thể hiện được trí tuệ loài người vô tận. Con người có thể khéo léo giành được cơ hội sinh tồn cho mình trong thế giới muôn loài là nhờ vào những tích lũy kinh nghiệm và học tập nhờ trí tuệ của mình...
Có thể nói, một người thoáng xem chậm chạp, nhưng khi hành động thì sự chậm chạp ấy chính là lúc “Sắp xếp tính toán”, “Đo lường thực lực” rồi mới tung ra “Đòn” sét đánh không kịp bưng tai để thủ thắng.
Con người không thể thay đổi dễ dàng mạnh yếu về vật chất ; Thí dụ như uống thuốc tăng cường thể lực, bồi bổ bắp thịt v.v.. Nhưng lại có thể giành được địa vị hoặc công việc có lợi cho bản thân bằng trí tuệ. Tỏ ra mạnh mẽ khi gặp đối phương quá yếu đuối hoặc tỏ ra yếu đuối khi đối phương thực sự mạnh mẽ.
“Gặp mạnh tỏ ra yếu” nghĩa là nếu gặp phải một người có sức mạnh thực sự và rõ ràng là cao hơn mình thì khi ấy không nên vì thể diện mà tranh giành vị thế với nhau. Mạnh gặp Mạnh chúng ta vẫn có cơ hội thắng nhưng chắc chắn sẽ tổn hại rất lớn. Vậy ta hãy đừng ngại tỏ ra là mình yếu đuối,; vừa có tác dụng khiến cho đối phương không đoán ra được thực hư về bản thân mà Ta còn hóa giải được ý thức cảnh giác của đối phương. Cũng giống như môn võ Judo của Nhật Bản khuyên người ta đừng bao giờ tấn công trước là vậy.
“Gặp yếu tỏ ra mạnh” nghĩa là nếu gặp phải đối thủ có thực lực yếu hơn thì mình cần phải thể hiện thế mạnh hơn so với người. Vậy có thể khiến cho kẻ yếu nhìn mà sợ, biết mà lui. “Tỏ ra mạnh” ở đây chỉ là mang tính phòng vệ chứ không phải mang tính tấn công. Vì tấn công ắt sẽ có tổn thất và cũng đề phòng gặp phải đối phương cũng biết áp dụng “Gặp mạnh tỏ ra yếu” hoặc biết cách che giấu thực lực của mình.
>> Trong xã hội loài người, không tồn tại những kẻ mạnh tuyệt đối và kẻ yếu vĩnh viễn. Chỉ có kẻ mạnh và kẻ yếu nhất thời mà thôi. Bởi vậy tốt nhất nên duy trì một sự cân bằng .“Gặp mạnh tỏ ra yếu”, “Gặp yếu tỏ ra mạnh” đều có tác dụng khống chế được đối phương trong bất kỳ trường hợp nào.
Có thể nói, một người thoáng xem chậm chạp, nhưng khi hành động thì sự chậm chạp ấy chính là lúc “Sắp xếp tính toán”, “Đo lường thực lực” rồi mới tung ra “Đòn” sét đánh không kịp bưng tai để thủ thắng.
Con người không thể thay đổi dễ dàng mạnh yếu về vật chất ; Thí dụ như uống thuốc tăng cường thể lực, bồi bổ bắp thịt v.v.. Nhưng lại có thể giành được địa vị hoặc công việc có lợi cho bản thân bằng trí tuệ. Tỏ ra mạnh mẽ khi gặp đối phương quá yếu đuối hoặc tỏ ra yếu đuối khi đối phương thực sự mạnh mẽ.
“Gặp mạnh tỏ ra yếu” nghĩa là nếu gặp phải một người có sức mạnh thực sự và rõ ràng là cao hơn mình thì khi ấy không nên vì thể diện mà tranh giành vị thế với nhau. Mạnh gặp Mạnh chúng ta vẫn có cơ hội thắng nhưng chắc chắn sẽ tổn hại rất lớn. Vậy ta hãy đừng ngại tỏ ra là mình yếu đuối,; vừa có tác dụng khiến cho đối phương không đoán ra được thực hư về bản thân mà Ta còn hóa giải được ý thức cảnh giác của đối phương. Cũng giống như môn võ Judo của Nhật Bản khuyên người ta đừng bao giờ tấn công trước là vậy.
“Gặp yếu tỏ ra mạnh” nghĩa là nếu gặp phải đối thủ có thực lực yếu hơn thì mình cần phải thể hiện thế mạnh hơn so với người. Vậy có thể khiến cho kẻ yếu nhìn mà sợ, biết mà lui. “Tỏ ra mạnh” ở đây chỉ là mang tính phòng vệ chứ không phải mang tính tấn công. Vì tấn công ắt sẽ có tổn thất và cũng đề phòng gặp phải đối phương cũng biết áp dụng “Gặp mạnh tỏ ra yếu” hoặc biết cách che giấu thực lực của mình.
>> Trong xã hội loài người, không tồn tại những kẻ mạnh tuyệt đối và kẻ yếu vĩnh viễn. Chỉ có kẻ mạnh và kẻ yếu nhất thời mà thôi. Bởi vậy tốt nhất nên duy trì một sự cân bằng .“Gặp mạnh tỏ ra yếu”, “Gặp yếu tỏ ra mạnh” đều có tác dụng khống chế được đối phương trong bất kỳ trường hợp nào.
Subscribe to:
Posts (Atom)